Thứ hai, 02/07/2012, 13:48:46 GMT+7
Danh mục
Họ Ngô

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 350691
Số người online: 92

TỔNG HỢP KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ GIA PHẢ

06/11/2013

Gia phả là cuốn sách biên chép lịch sử các thế hệ của gia đình, họ tộc. Đọc gia phả giúp các lớp hậu thế hiểu rõ nguồn cội và quan hệ huyết thống của mình, qua đó tăng thêm niềm tự hào đối với Tổ tiên, dòng tộc.

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội đất nước, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được một bước  nâng cao, hiện nay trào lưu tìm về cội nguồn ngày một mở rộng. Nhiều việc làm với ý nghĩa vấn tổ tầm tông trong đó có việc sưu tầm phả cũ, tục biên và dựng phả mới được các dòng họ hết sức quan tâm. Trên phương diện nghiên cứu khoa học, các cơ quan, tổ chức hữu trách cũng bước đầu có sự khởi động đáng kể. Một số tổ chức chuyên ngành nghiên cứu và thực hành dựng phả, viết phả được hình thành ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Một số doanh nghiệp, cá nhân đã xây dựng các phần mềm quản lý gia phả trên máy vi tính, trên internet…
Họ Ngô Việt Nam là một trong những dòng họ sớm tổ chức ban liên lạc họ tộc toàn quốc. Từ khi thành lập năm 1988 đến nay,  sau hơn 20 năm hoạt động, Ban Liên lạc  Họ Ngô Việt Nam (nay là Hội đồng Ngô tộc Việt Nam) đã có nhiều hoạt động thiết thực, đóng góp tích cực cho Dòng Họ. Tác phẩm Lịch sử Họ Ngô Việt Nam ra đời là kết quả của bước khởi đầu, đặt nền móng cho việc  nghiên cứu sau này. Tiếp đó, cuốn Phả hệ Họ Ngô Việt Nam xuất bản năm 2003, tái bản có bổ sung, sửa đổi năm 2011 đã kết nối nhiều chi họ liên thông được tới Khởi Tổ, tạo tiền đề đồng thời là chất xúc tác cho các chi họ trong khắp cả nước tích cực sưu tầm, dịch thuật phả cũ, dựng phả mới và viết bổ sung gia phả của chi họ mình. Hiện nay một số chi họ còn lập được  trang web riêng, đưa gia phả của chi họ mình lên internet để con cháu khắp mọi miền đất nước và ở nước ngoài theo dõi.
Với một vài hiểu biết và chút ít kinh nghiệm của bản thân, tôi xin tổng hợp, trình bày một số kiến thức cơ bản về gia phả để độc giả, những ai quan tâm tham khảo, cùng chia sẻ và cho ý kiến bổ sung.
Bài viết này trình bày mấy nội dung chính sau:
     - Gia phả là gì.
     - Nội dung, kết cấu và cách trình bày gia phả.
     - Kinh nghiệm đi thực địa  tìm kiếm, thu thập và ghi chép dữ liệu.
     - Viết gia phả như thế nào.
     - Một số tên gọi, từ ngữ dùng trong các phả cũ.
Sau đây xin được lần lượt tìm hiểu các nội dung trên.

1. Gia phả là gì?

Gia phả là một từ Hán Việt, trong đó Gia có nghĩa là gia đình, gia tộc, họ tộc; Phả (còn có âm là Phổ) là cuốn sách biên chép con người,  sự việc theo thứ tự, hệ thống.  Người ta có một trong những cách định nghĩa:
Gia phả (hay gia phổ) là cuốn sách ghi chép lại lịch sử các thế hệ của một gia đình hay họ tộc.
Tùy quy mô và cách viết, Gia phả còn được gọi là Tộc phả (Tộc phổ), Phả ký, Phả chí, Phả hệ, Phả truyền. Các nhà tông thất còn gọi gia phả của vương triều, dòng tộc mình là Ngọc phả, Thế phả.
Ở các đền miếu, đình làng cũng có các sách chép về lịch sử ra đời của công trình cũng như sự tích, truyền thuyết các Thần, Thánh, Thành hoàng được thờ phụng. Sách đó gọi là Thần phả, Thánh phả.

2. Nội dung, cấu trúc và cách trình bày gia phả.


Căn cứ vào nội dung hoặc cấu trúc trình bày, người ta chia bản gia phả thành các phần viết khác nhau.
Xét về nội dung, một bản phả dù viết giản đơn hay viết chi tiết thường được chia làm 3 bộ phận: lời nói đầu (lời tựa), chính văn gia phả và những nội dung viết thêm.
Lời nói đầu (hay lời tựa) nêu lên ý nghĩa của gia phả đối với họ tộc; giới thiệu nguồn gốc và những truyền thống tốt đẹp vốn có của dòng tộc; về quá trình sưu tầm, khảo cứu, chắp nối và biên tập phả; phương pháp trình bày, hướng dẫn người đọc để tiếp cận và hiểu một cách dễ dàng. Một số bản phả còn ghi lại những lời nhận xét, đánh giá của những người có uy tín, có ảnh hưởng cao trong họ tộc, trong xã hội đối với bản phả.

Chính văn gia phả : Đây là phần chủ yếu của một bản phả, trong đó trình bày rõ  thân thế, sự nghiệp, thế thứ của các thành viên trong họ tộc, có sơ đồ biểu thị để dễ dàng theo dõi.
 Đối với bản thân mỗi người, phả ghi đầy đủ tên húy,  tên tự, tên hiệu và các danh xưng khác (nếu có); ngày tháng năm sinh (nếu có thể thì ghi cả giờ sinh); là con ai, con thứ mấy trong gia đình; công việc, sự nghiệp, phẩm chất, tính cách hoặc những đặc điểm nổi bật của từng người. Những người có vị trí quan trọng có nhiều cống hiến, đóng góp cho dòng tộc, quê hương, đất nước thì ghi tỉ mỉ, chi tiết, với mục đích làn tấm gương cho các thế hệ sau học tập. Phần ghi vợ (hoặc chồng) cũng được ghi đầy đủ những nội dung trên (trong các phả cũ, người có nhiều vợ được ghi đầy đủ chính thất, thứ thất, kế thất…), sinh hạ mấy con, tên từng con. Người đã mất thì ghi rõ ngày tháng năm mất, thụy hiệu, nguyên nhân từ trần, tang lễ,  nơi chôn cất, cải táng, di táng…
Nếu có điều kiện thì in kèm ảnh chân dung của từng người cho sinh động. Người quá cố không lưu giữ được ảnh chân dung thì có thể in ảnh mộ chí.

Nội dung viết thêm (có tài liệu gọi là phần ngoại phả hay phụ khảo): viết về các vấn đề ngoài phả hệ như: nhà thờ Tổ, việc hưng công xây dựng, cung tiến của các cá nhân, gia đình; việc thờ cúng, giỗ Tổ, văn tế Tổ, Tộc ước, các câu đối, áng văn thơ tiêu biểu; đặc điểm xóm làng quê hương họ tộc; mối quan hệ với các họ tộc khác ở địa phương…

Xét về cách thức trình bày, một bản gia phả được chia làm 3 thành phần: Phả ký, phả hệ và phả đồ.

Phả ký là tất cả những phần ghi chép nội dung của bản phả, cả lời tựa, chính văn và phần viết thêm. Đây là phần quan trọng, khi đọc sẽ thể hiện tinh thần chủ yếu của bản phả.

Phả hệ là việc trình bày quan hệ thế thứ của các thành viên trong họ tộc. Xem nội dung này ta có thể biết được vị trí, vai vế, tên tuổi của từng người, người đó thuộc đời thứ mấy trong họ, là con ai, sinh ra những ai…
Thông thường có 3 cách trình bày phả hệ: viết theo chiều ngang, viết theo chiều dọc và viết kết hợp ngang dọc.

- Viết theo chiều ngang là viết lần lượt các đời trong họ; sau đời thứ nhất đến đời thứ hai, hết đời thứ hai đến đời thứ ba, hết đời thứ ba đến đời thứ tư… Ưu điểm của cách viết này là khi xem ta biết ngay người đó ở đời thứ mấy, mỗi đời có bao nhiêu người... Tuy nhiên nó có nhược điểm là không biết được mối quan hệ chung và rất khó theo dõi. Cách viết theo chiều ngang thường chỉ áp dụng cho một gia đình ba, bốn đời, còn đối với một họ tộc có nhiều đời thì ít thấy sử dụng.
- Viết theo chiều dọc là chia dọc từng chi, từng cành  trong họ để viết. Viết hết chi một đến chi hai, hết chi hai đến chi ba... Trong mỗi chi lại chia ra từng cành, hết cành một đến cành hai, hết cành hai đến cành ba... Tương tự như trên, trong mỗi cành lại chia viết từng nhánh nhỏ. Đây là cách viết phổ biến, dễ theo dõi, các nhà viết phả xưa nay hay dùng (xem hình 1).

 

Hình 1: Phả hệ – một cách trình bày dọc
- Viết ngang dọc kết hợp: Một cách viết khác là viết kết hợp ngang dọc. Cách viết này tuy dài nhưng người xem dễ nhận biết. Nội dung chính vẫn được viết theo phương pháp dọc, nhưng sau (hoặc trước) khi trình bày dọc, trình bày tóm tắt theo hàng ngang, chủ yếu chỉ viết họ tên, nếu có thể viết bổ sung một số thông tin chủ yếu nhất của mỗi người.

Phả đồ (còn gọi là cây phả hệ) là hình thức biểu thị phả hệ theo sơ đồ để khi nhìn vào người ta có thể nắm bắt một cách tổng thể mối quan hệ thế thứ trong họ tộc. Thông thường có 3 cách trình bày phả đồ:

- Trình bày theo hình cây : đây là cách trình bày một số người dựng phả  trước đây hay dùng. Bắt đầu từ gốc là đời thứ nhất, mọc ra các cành, cành phía trái là chi trên, cành phía phải là chi dưới. Tương tự vậy, trong mỗi cành lại có các cành nhỏ phân chia từng lớp từng tầng. Cách trình bày này khá sinh động, xem dễ hiểu nhưng cũng khó trình bày, nhất là đối với các họ lớn có nhiều đời (xem hình 2).
 
Hình 2 – một dạng phả đồ hình cây

- Trình bày theo vòng tròn đồng tâm: Vẽ các vòng tròn đồng tâm, cụ Tổ đời thứ nhất ở trung tâm, vòng thứ hai là đời thứ hai, vòng thứ ba là đời thứ ba... Hình thức này cũng dễ xem nhưng chỉ áp dụng cho một gia đình ba, bốn đời, còn họ tộc đông người thì khó thể hiện. Nói chung hình thức này ít được áp dụng (xem hình 3).
 
Hình 3 - Phả đồ vòng tròn đồng tâm

- Trình bày theo sơ đồ tổ chức: đây là hình thức phổ biến được nhiều người sử dụng. Có thể vẽ theo hai cách: theo chiều dọc và theo chiều ngang.