Thứ hai, 02/07/2012, 13:48:46 GMT+7
Danh mục
Họ Ngô

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 330058
Số người online: 54

Tổ quốc và cách mạng - một tình yêu lớn trong thơ Xuân Diệu

27/10/2014

Vâng! Nói đến Xuân Diệu người ta nghĩ ngay đến “ông hoàng” của những bài thơ tình làm mê đắm biết bao thế hệ. Như nhà thơ Huy Cận từng nhận xét: "Thơ tình Xuân Diệu đã được đăng báo, in sách, được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài, và - vinh dự cao sang - đã dược chép nâng niu trong các quyển sổ tâm tình của bao bạn trẻ, trong nhật ký trên đường hành quân của biết bao chiến sĩ. Và ngay trong mỗi chúng ta từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, không một ai là không thuộc một vài bài thơ của ông".

Nhưng Xuân Diệu không chỉ có thơ tình. Tổ quốc và cách mạng là một đề tài lớn không kém trong thơ ông. Tình cảm với Đảng với Bác Hồ với nhân dân trong thơ Xuân Diệu sâu sắc lắng đọng hoà quyện trong tình yêu quê hương đất nước và đã trở thành một bộ phận máu thịt trong thơ ông. Trừ Tố Hữu và một vài nhà thơ cách mạng đi trước, ông là người ngợi ca cách mạng sớm nhất và say sưa nhất. Từ “ Ngọn Quốc kỳ”-1945, “ Hội nghị non sông”- 1946, “Dưới sao vàng” – 1949, đến những bài thơ viết trong thời kỳ đấu tranh thống nhất nước nhà và xây dựng CNXH sau này, ông luôn luôn giành một tình cảm thiết tha đằm thắm mà mộc mạc chân thành. Bên cạnh một Xuân Diệu nồng nàn đằm thắm với tình yêu, ta có một Xuân Diệu - công dân - một nhà thơ cộng sản.

Là một nhà thơ lãng mạn trước cách mạng, Xuân Diệu sẵn có một tâm hồn đa cảm, ông thấm thía nỗi cô đơn bế tắc của tầng lớp tiểu tư sản, ông khát khao đến “vô biên và tuyệt đích” một sự giao hoà, một sự cảm ứng với thiên nhiên tạo vật và con người. Cách mạng đến như một làn gió thổi vào tâm hồn ông làm bùng lên ngọn lửa khát khao đó. Lòng ông đã mở sẵn “chờ một tiếng để bừng lên hạnh phúc”, bởi ông sẵn có “một mặt trời giữa ngực”. Và tấm lòng yêu thương rộng mở ấy đến với cách mạng như một tất yếu.

Chàng thi sĩ của những “cái thê lương của vũ trụ, cái bi đát của kiếp người” đến với cách mạng như một sự hoá thân, một sự lột xác:

Có mấy bữa mà Việt nam thắm cả

Máu nén lâu từ ấy đã bung ra

Những túp lều xơ xác cũng ra hoa

Những gốc cũ nảy một chồi sống mới

Cả anh dũng cũng tưng bừng trở lại

Một trăm năm tan nát tựa mù sương

 

Từ những bế tắc của một thân phận cá nhân đắm chìm trong mộng mị, trong yêu đương với những câu thơ u uẩn lòng người, Xuân Diệu xuất thế nhập thần vào đời sống của dân tộc, hát lên những ước vọng của dân tộc trong tranh đấu hy sinh:

Càng đấu tranh vàng mới lại vàng ra

Có nung nấu đỏ lại càng đỏ riết

Theo cờ gọi những con dân đất Việt

Dâng máu xương không tiếc với sơn hà


Có lẽ Xuân Diệu là người nhiệt tình nhất trong số các nhà văn, nhà thơ tham gia Kháng chiến. Ông không còn bấu víu lấy cuộc đời bằng những móng tay và đối mặt với biên giới băng giá của chủ nghĩa hư vô nữa. Dưới ảnh hưởng của người bạn thân Huy Cận, Xuân Diệu đã trở thành một cảm tình viên nhiệt thành và được kết nạp Đảng vào năm 1947.Sự nổi tiếng và tài thơ của ông là một đóng góp giá trị đối với cách mạng,thành phần gia đình tư sản và quá khứ là thi sĩ lãng mạn nhất, Âu hóa nhất và riêng tư nhất trong văn giới Việt Nam, Xuân Diệu trở thành người tích nhất trong giới văn nghệ mới. Ông là người ca ngợi Bác Hồ và Đảng nhiệt tình hơn ai hết:

Mỗi lần tranh đấu gay go

Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm

Nghe lời Bác dạy khuyên răn

Chúng con ước muốn theo chân của người…

Chúng con thề nguyện một lời

Quyết tâm thành khẩn lột người từ đây

 

Qua cụm từ “lột người từ đây”, Xuân Diệu muốn thể hiện chính xác, không thừa, không thiếu, sự tái sinh dưới một diện mạo mới. Đây là sự thể hiện nguyện ước được “tái sinh” dưới chủ nghĩa cộng sản…

Ông hoà mình vào dòng người aó vải chân không “ăn mặc đủ màu quê” ấy mà nhiệt thành ngợi ca cách mạng:

Việt nam! Việt nam! Cờ đỏ sao vàng

Những ngực nén hít thở ngày độc lập

Nghìn lực mới bốn phương lên tới tấp

Nếp cờ bay xen vỗ sóng bài ca

Bốn nghìn năm trông mặt mẹ không già !

Chúng con vẫn giữ một lòng trẻ ấy

Thấy còn dư máu đỏ để trang hoàng

 

Hình ảnh những con người mới hôm qua còn là kiếp ngựa trâu đã vùng lên với sức sống mãnh liệt:

Mắt trào lửa giận cháy con ngươi

Miệng hát quân ca loè ánh sáng

Vai mang súng đoạt của quân thù

Mũ lấy trên đầu quân giặc loạn


với một lòng tin sắt đá vào thắng lợi dù phải gian khổ hy sinh:

Cắt đá bổ đèo thân giữa gió

Chém tre đẵn gỗ ở cùng ma

Bước vừa đặt xuống dựng chòi lên

Phá sậy lau ra ruộng cấy liền


Năm tháng vun trồng cơm mọc chậm

Thắt dây lưng bụng vững lòng tin


(Hội nghị non sông – 1946)

Lá cờ Tổ quốc đã từng thấm máu hy sinh của đồng bào đồng chí thôi thúc họ:

Vì bởi yêu cờ mới tới đây

Xông pha sương gió gội mưa dày

Áo trăm lần ướt rồi khô lại

Thân hết chui rừng lại lách mây


Chất sử thi hùng tráng trong hai trường ca “Ngọn Quốc kỳ” và “Hội nghị non sông” làm nổi bật khí thế hào hùng của cách mạng tháng Tám và quyết tâm giữ vững độc lập của dân tộc ta. Cảm xúc của ông thật mạnh mẽ và chân thành dù lúc đó ông chưa phải là đảng viên cộng sản.

Sinh ra và lớn lên trong đêm dài nô lệ của dân tộc, Xuân Diệu đau cái đau của người dân mất nước:

Trong khoảng đời đau khổ ấy tôi sinh

Tôi lớn lên cay đắng những tâm tình,

Dân nô lệ ở trong vòng lưới sắt

Mỗi cử động tôi thấy đều vướng mắc

Đi trong đời như một kẻ lột da.


( Lệ - 1957)

Cách mạng đã đổi đời cho cả dân tộc cho mỗi con người và đối với ông:

Cách mạng dần thay đổi hồn tôi

Tôi hãy còn những khi rơi lệ cũ

Nhưng cũng lạ, giữa muôn trùng thác lũ

Bốn bề cây sao chẳng thấy bơ vơ

Chân rớm máu, mồ hôi nhiều có đổ

Sao mắt tôi không thấy lệ hoen mờ


( Lệ - 1957)

Những ngày đầu cách mạng thật náo nức say mê nhưng tiếp liền sau đó là chín năm kháng chiến gian khổ. Những khó khăn thiếu thốn của cuộc đời kháng chiến làm hoang mang dao động biết bao người. Bản thân ông cũng có cái giằng xé níu kéo giữa cái cũ, cái mới. Sau này khi đã trở thành Đảng viên cộng sản, say mê cống hiến cho Đảng cho cách mạng, tự nhìn lại mình ông có sự ân hận chân thành:

Riêng con lầm lạc tâm hồn

Người tuy trong Đảng hồn còn ở xa

Mỗi người một lỗi xót xa

Bốn trăm người lỗi bao la nặng nề


nhìn mái đầu điểm sương của Bác Hồ, ông ngậm ngùi xúc động:

Trên đầu tóc Bác sương ghi,

Chắc đôi sợi đã bạc vì chúng con!


( Thơ dâng Bác – 1953)

Ông đã từng là đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên (1946 – 1960) đã từng là thành viên trong đoàn ngoại giao do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau tháng 7 năm 1946. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông sau cách mạng Tháng Tám gắn chặt với thời đại, với dân tộc, và chính hơi thở của dân tộc của thời đại đã truyền cho ông một sức sống mãnh liệt, một tình yêu vô bờ bến với Tổ quốc với nhân dân:

Tình yêu Tổ quốc là ngọn núi dòng sông

Đến tột cùng là dòng huyết chảy


Ông như là đứa con nhỏ trong lòng Mẹ - Tổ quốc:

Trưa hôm nay con ngồi như trẻ nhỏ

Giữa đáy trưa trong lòng Mẹ vô cùng

Con là sáo Mẹ là ngàn vạn gió

Mẹ là trời con là hạt sương rung


( Việt muôn đời – 1947)

Và đối với Đảng, với Bác Hồ - người đã đổi đời cho cả dân tộc, ông luôn luôn giành một tình cảm tha thiết chân thực:

Ôi người yêu, yêu hơn cả ái tình

Người rất mực xa xanh và đỏ thắm

Người gần gũi và bao la vạn dặm

Người một người và ức triệu con người


( Gánh - 1959)

Khi Bác Hồ mât , cả nước đau thương tột đỉnh, ông khóc Bác như con khóc cha, bấm đốt ngón tay tính từng ngày cha ra đi - Một sự thương nhớ thật sâu nặng:

Bây giờ mới khóc Bác ơi,

Giật mình hăm bốn hôm rồi đó sao?

Nhớ thương nào có nguôi nào

Tháng ngày càng khắc Bác vào tim con

 

Một sự đau đớn từ gan ruột:

Bây giờ là mới khóc đây

Bác ơi không phải lệ đầy bên trên

Mà sâu giọt lệ dưới nền

Cuộn từ gan ruột đưa lên tâm hồn


(Bác ơi - 1969)

Tình yêu của ông đối với cách mạng với Tổ quốc gắn với tình yêu quê hương xứ sở:

Quê cha Hà Tĩnh đất hẹp khô rang

Đói bao thuở cơm chia phần từng bát

Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát

Bình Định lúa xanh ôm bóng tháp chàm


( Cha đàng ngoài mẹ ở đàng trong - 1960)

Do đặc điểm sinh thành, tuổi thơ ông gắn bó tha thiết với con sông nhỏ Gò Bồi và gió biển Quy Nhơn nên tình cảm với miền Nam quê ngoại thật sâu nặng:

Mang trong một nửa người

Miền Nam là máu huyết

Và ông khắc khoải với sự chia cắt:

Đường đi cách trở ở đôi bên

Mạch máu quê hương vẫn chảy liền

Hạt giống lìa cây ăn đất mới

Lá xanh thương cội lúc nào quên


Tình cảm với miền Nam trong ông không chỉ là tình yêu quê hương xứ sở mà cao hơn cả là trách nhiệm công dân về sự thống nhất nước nhà:

Đất nước trong tôi là một khối

Dòng sông Bến Hải chảy qua tim


Trong ông tình yêu đất nước quê hương và tình máu mủ ruột rà quyện làm một:

Đội ơn thầy đội ơn má sinh con

Cảm ơn thầy vượt đèo ngang bất kể

Cảm ơn má dã yêu người xứ Nghệ

Để máu con chung hòa cả hai miền


Tình yêu đó cũng chung hòa quyện chặt trong tình yêu nhân dân cùng gắn bó máu thịt trong lao động và chiến đấu:

Tôi cùng xương cùng thịt với nhân dân của tôi

Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu

Tôi sống với cuộc đời chiến đấu

Của triệu người yêu dấu gian lao

(Những đêm hành quân- 1966)

Xuân Diệu hăng say hoạt động, ông đi nhiều, viết nhiều. Ông đã đi khắp mọi nẻo đường đất nước, có hàng ngàn cuộc nói chuyện thơ với quần chúng. Ông đọc thơ bình thơ cho bộ đội, cho dân công, cho đồng bào nghe. Những năm chién tranh ác liệt, hình ảnh nhà thơ - chiến sĩ với “một chiếc xe - đạp băng vào đêm tối” đã để lại những ấn tượng khó phai mờ:

Đã ngót năm vẫn nhớ từng tấc đất

Là những tháng mưa bom căng thẳng nhất

Khi giữa đường nhờ đất để che thân

Anh càng yêu đất nước gấp trăm lần


Cả cuộc đời say mê Sống, say mê Yêu, say mê Sáng tạo. Tâm hồn ông luôn tươi mới, ông nhìn đời bằng “đôi mắt xanh non” Ông tha thiết như “sự sống chẳng bao giờ chán nản” . Và như con ong cần mẫn hút hương nhụy của đời rồi hiến dâng cho đời mật ngọt của những câu thơ kỳ diệu làm say đắm lòng người cho đến lúc:

Cái quả cam này đà vắt hết

Hiến cho non nước hiến cho đời

Tuy không biết đến bao giờ kiệt

Nhưng dẫu sao thì cũng phải dừng

Hãy để cho tôi được giã từ

Vẫy chào cõi thực để vào mơ

Trong hơi thở chót dâng trời đất

Cũng vẫn si tình đến ngất ngư

(Vô đề -1980)

Xuân Diệu là thế!

Như nhà thơ Huy Cận đã đánh giá: “Nếu có một nhà thơ rất đỗi tin yêu đời và được đời yêu mến lại một cách mặn nồng ruột rà và thắm thiết. Đó là nhà thơ Xuân Diệu. Bạn đọc bạn đời yêu Xuân Diệu không chỉ yêu thơ tình của Anh mà yêu Anh qua toàn bộ nghiệp sáng tạo trong suốt nửa thế kỷ của Anh”

Những nhân cách lớn luôn thuộc về nhân dân, xuyên suốt mọi thời đại. Đã hơn một phần tư thế kỷ Xuân Diệu đi xa nhưng trái tim nồng nàn tình yêu của ông còn đập mãi với nhịp đập của dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của Đảng của nhân dân ta.

Ngô Trọng Kim - Hà Tĩnh, một ngày cuối Đông 2011

(Nhân kỷ niệm 26 năm ngày mất nhà thơ Xuân Diệu )

Gửi bởi ngohoa