Thứ hai, 02/07/2012, 13:48:46 GMT+7
Danh mục
Họ Ngô

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 330038
Số người online: 34

PHẢ HỆ HỌ NGÔ VIỆT NAM

TÁI BẢN LẦN THỨ HAI CÓ SỬA CHỮA, BỔ SUNG

    

 

 

 

         


         


         


         


        


         


         

 

 

Càn khôn chính khí vô kim cổ

Phiệt duyệt hoa tông hữu khoán  thư

Ngô Trần Thực

(Tiến sĩ khoa Canh Tý-1760)

 

Tạm dịch:

Trong khoảng đất trời, chính trực không chia kim cổ

Vốn dòng quyền quý, tông đường còn có khoán thư

 

 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU CỦA GIÁO SƯ ĐẶNG VŨ KHIÊU CHO LẦN XUẤT BẢN ĐẦU TIÊN


        Tôi đánh giá cao công trình sưu tầm và nghiên cứu do các bạn họ Ngô đưa cho tôi đọc. Đó là cuốn Phả hệ họ Ngô Việt Nam”. Đây là một dạng Gia phả tập trung vào trình bày tỉ mỉ sự nối tiếp giữa các thế hệ của dòng họ trong chiều dài lịch sử. Công trình đã cung cấp rất nhiều tư liệu tin cậy về các danh nhân dòng họ.

       Điểm đặc sắc nhất của công trình này là đã gạt bỏ những gì mang tính huyền bí về nguồn gốc và quá trình phát triển của dòng họ như ta từng thấy trong nhiều cuốn Gia phả. Công trình tránh được sự tùy tiện và chủ quan của con cháu khi viết về ông cha, hoặc ghi lại những sự kiện không có cơ sở về thực tại xã hội cũng như về giá trị khoa học.

      Các tác giả của công trình đã tỏ ra hết sức thận trọng và khiêm tốn khi tránh đưa vào đây những đánh giá chủ quan của con cháu mà chỉ sưu tầm và trích dẫn của các học giả từ xưa đến nay rút ra từ kho tàng di sản văn hóa còn lưu lại.

       Tính nghiêm khắc trong khoa học này đã nâng cao giá trị của công trình, nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế.

      Khi nói về danh nhân của dòng họ, các tác giả đã làm nổi bật những tên tuổi kiệt xuất như Ngô Quyền, Ngô Tuấn (Lý Thường Kiệt). Những số trang dành cho việc này cũng không ít lắm, nhưng vì tác giả là con cháu của dòng họ có phần e ngại, tránh những lời tự mình ca ngợi tổ tiên mình, nên tôi cho là cuốn Phả hệ chưa nói được đúng mức vị trí cực kỳ lớn lao của những nhân vật ấy trong lịch sử dân tộc.

      Ngoài các công trình sử học cũng như các sách nghiên cứu về những danh nhân ấy đã được xuất bản, tôi thấy chưa có những công trình có quY mô về khoa học và văn học xứng đáng với các vị ấy trong trong lịch sử dân tộc. Về mặt tưởng niệm, cũng chưa có những công trình nào đáng kể về xây dung đền đài, lăng miếu ngang tầm với danh nhân khác. Như với Ngô Quyền chẳng hạn, chúng ta chưa đặt được vào một vị trí lịch sử xứng đáng hơn, chưa làm nổi bật lên vai trò của người anh hùng dân tộc đã chính thức kết thúc một ngàn năm sống và chiến đấu gian khổ của dân tộc dưới ách thống trị của phương Bắc, người đã với chiến công oanh liệt của mình, mở đầu cho thời kỳ độc lập tự cường của dân tộc.

      Tuy nhiên, với tính khách quan và khoa học, công trình nghiên cứu đã đạt được nhiều mục tiêu đề ra. Nó không những có ý nghĩa cổ vũ họ Ngô trong Nam ngoài Bắc noi theo truyền thống cha ông trong việc tu dưỡng bản thân, xây dựng gia đình hạnh phúc mà còn đem toàn bộ trí tuệ tài năng phục vụ cho sự phồn vinh của Tổ quốc và hạnh phúc của đồng bào, tôi tin rằng cuốn Phả hệ này được xuất bản sẽ còn được đông đảo độc giả hoan nghênh. Mọi người có thể tìm thấy ở đây những bài học trong việc khai thác và phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng họ mình, coi như những di sản quý báu trên con đường dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 

                                                      Hà Nội, cuối đông Tân Tị

                                                       Giáo sư Đặng Vũ Khiêu

                                        Anh hùng lao động, Nhà văn hóa Việt Nam  

                                                     Giải thưởng Hồ Chí Minh

 

 

PHÀM LỆ LẦN TÁI BẢN THỨ HAI


          Phả hệ Họ Ngô Việt Nam (gọi tắt là Phả hệ) do Ban Liên lạc họ Ngô Việt Nam (May là Hội đồng Ngô tộc Việt Nam) tổ chức biên soạn, Nhà xuất bản VHTT ấn hành năm 2003. Đó là một công trình tập thể của nhóm tác giả Ngô Vi Thiện, Ngô Vui và Ngô Quang Nam, do GS Ngô Vi Thiện chủ biên, phần Phả hệ chủ yếu do Ngô Vui biên soạn.

         Sau gần mười năm, 1000 ấn phẩm đã được phát hành hết. Từ năm 2010 trở lại đây, rất nhiều chi họ Ngô và cá nhân trong cũng như ngoài họ Ngô trong cả nước cũng như ở nước ngoài có nhu cầu được cung cấp Phả hệ để được biết nguồn gốc, lịch sử dòng họ, giúp cho việc giáo dục đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta đối với con cháu trong dòng tộc.

         Ban Liên lạc họ Ngô Việt Nam quyết định cho tái bản Phả hệ có sửa chữa và bổ sung và giao cho ông Ngô Vui, Trưởng ban Liên lạc biên tập.

         Phàm lệ của lần tái bản này chủ yếu căn cứ vào Phàm lệ của lần xuất bản trước có bổ sung cho phù hợp.

1. Phả học hiện chưa thành một ngành khoa học, nên các thuật ngữ xưa nay vẫn dùng như: dòng, chi, nhánh, .. . chưa được định nghĩa và sắp thành hệ thống. Phả hệ họ Ngô Việt Nam chỉ dùng 5 thuật ngữ: Ngành, Dòng, Dòng Họ (cũng nói gọn là Dòng), Cành và Họ:

-   Đời thứ 8 Ngô Xương Xí có hai con trai phân thành hai Ngành: Trưởng, Thứ.

-   Dưới Ngành là Dòng: Đời thứ 20 Ngô Từ có 11 con trai phân thành 11 Dòng. Tên Dòng lấy theo tên người, như Dòng Ngô Khế, Dòng Ngô Lan,.. .

-  Dưới Dòng là Dòng Họ (nói gọn là Dòng), tên Dòng gọi theo địa danh: Dòng Trảo Nha, Dòng Bách Tính,.. . Riêng ở Đồng Phang có ba Dòng thì phân biệt bằng cách đánh số 1, 2,3:  Dòng Đồng Phang 1, Dòng Đồng Phang 2,.. .

-  Dưới Dòng Họ là Cành. Cành để chỉ hậu duệ của các vị con thứ. Chẳng hạn: Dòng Trảo Nha, đến đời thứ 5 Ngô Cảnh Hựu có 6 con trai, thì 5 người con thứ là 5 cành. Riêng người con trưởng, thì theo Phả Đại tôn, không định danh (mặc nhiên là cành trưởng).

-   Dưới Cành là Họ, bất luận có nhiều hay ít đời (từ 5 đời trở lên, đã phân cư, li tổ với Dòng gốc).

        Ngoài ra, trong nhiều dòng họ còn phân chia thành chi, phái, cành, nhánh, bếp,.. . chúng tôi vẫn giữ nguyên cách gọi của dòng họ đó (trừ một số trường hợp quá phức tạp hoặc không phổ biến, như kiểu dùng mã số), khi ấy chúng tôi coi dòng họ đó như không phân chi.

2. Vị tổ phát tích đầu tiên của họ Ngô gọi là Khởi tổ. Với những Dòng, Họ đã nối thông được tới Khởi tổ, thì vị tổ đầu tiên của Dòng, Họ đó chỉ đánh số theo thế hệ chứ  không gọi là Thủy tổ. Tên Thủy tổ chỉ dành cho các vị tổ đầu tiên của Dòng, Họ chưa nối được tới Khởi tổ.

3. Địa phương cư trú của mỗi Dòng, Họ đều ghi cả tên dùng hiện nay và tên cũ (nếu tra cứu được). Địa danh chỉ ghi đến thôn, nếu không biết thôn thì ghi xã.

4. Tên người và chức tước: Tên người thì chép cả húy, tự, hiệu, thụy (nếu có). Chức tước thì chép đầy đủ theo Phả các Dòng, Họ (một số trường hợp có giản lược cho gọn).  Với các bà vợ và con gái: Tên các bà vợ đều chép cả (nếu có đủ họ tên). Trường hợp chỉ có tên hiệu, không có họ thì chỉ chép một số trường hợp cần thiết, phục vụ cho việc kết nối sau này. Con gái chỉ chép một số trường hợp cần thiết.

5. Niên đại và ngày kỵ: Niên đại được chuyển sang năm Dương lịch; chỉ trong phần diễn giải mới chép năm âm lịch, nhưng cũng chỉ trong các trường hợp cần thiết.  Ngày kỵ: chỉ chép đối với Thủy tổ của các Dòng, Họ chưa nối thông được tới Khởi tổ, cũng như với các bậc tiên tổ mà Phả cũ không chép hậu duệ, để giúp cho việc kết nối sau này.

6. Tài liệu cơ sở gốc để biên soạn Phả hệ là 6 bản phả cũ: Ngô Lan, Phan Hữu Lập, Ngô Trần Thực, Ngô Thế Vinh, Đồng Phang, Ngọc Giả. Ngoài ra có tham khảo các quyển Lịch sử họ Ngô Việt Nam của Ngô Đức Thắng cùng hơn 100 bản Phả của các Dòng, Họ.

-   Trường hợp tên một vị nào đó có khác nhau giữa các tài liệu cơ sở thì đều được tra lại các bản chữ Hán và chọn tên nào được nhiều phả dùng hơn, có ghi chú các tên còn lại.

-   Trường hợp các vị có chú “vô truyền”, “vô tự”, “vô hậu” mà không có ghi ngày kỵ và phần mộ thì đều được giữ lại trong Phả hệ. Một số  trường hợp rõ là vô tự, nhưng nếu có điều kiện thì vẫn được giữ lại. Những vị có hậu duệ thì được thể hiện bằng mũi tên đi xuống (trừ thế hệ cuối cùng trên phả đồ); trái lại thì không có mũi tên này.

-   Giữa Phả hệ và các tài liệu cơ sở có một số thay đổi. Mọi thay đổi đều được lý giải ngắn gọn và nêu rõ căn cứ. Chẳng hạn tên các bà vợ  Ngô Rô, Ngô Tây, các phả cũ đều chép sai, nay chúng tôi căn cứ vào Bia Sơn Lăng ở mộ bà Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao để sửa lại, hay gốc tổ họ Ngô Gia là họ Đồng Đường ngay tại Tam Sơn chứ không phải phân cư từ dòng Ngô Hồng,.. .

- Lần in này, với các bậc tiên tổ cao đời, chúng tôi cho in kèm tên bằng chữ Hán để các Họ dễ đối chiếu. Chữ Hán trong Phả hệ này căn cứ vào Ngô gia thế biên của Phan Hữu Lập.

-   Giữa Phả hệ 2003 và Phả hệ tái bản lần thứ nhất năm 2011cũng có một số khác nhau, căn cứ vào công trình nghiên cứu của Ngô Vui trong Kể chuyện nối thời gian do NXB VHTT ấn hành năm 2007. Vì vậy, tất cả những sự khác nhau đó đều chỉ dẫn nguồn chứ không trình bày chi tiết.

       Phả hệ họ Ngô tái bản lần thứ hai này so với PHHN năm 2011 cũng có một số thay đổi, chủ yếu là ở hai điểm dưới đây:

 - Thứ nhất: Các dòng, họ trong các lần in trước có chú “tồn nghi” xuất ra từ một họ nào đó, nhưng cho đến nay vẫn chưa có ý kiến phản bác của chi họ đó, chúng tôi tạm coi là sự đồng thuận, nên xếp vào chỗ của dòng họ gốc mà trước đó còn tồn nghi.    

     Ví du: Trong lần tái bản thứ nhất xuất bản năm 2011, với họ Ngô Tam Tảo (tr:278-290), chúng tôi có định hướng Thủy tổ Ngô An Nhàn của họ này là con Hoa Quốc công Ngô Nhạn. Định hướng đó đã được họ Tam Tảo chia sẻ, nên lần tái bản này chúng tôi xếp họ Tam Tảo vào Dòng Hoa Quốc công Ngô Nhạn.

      Trong những trường hợp kết nối một Họ nào đó với một Họ gốc, thì mỗi vị tiên tổ và con cháu của Họ kết nối sẽ có hai “mã số”. Một số chỉ số thế hệ của người đó trong họ Ngô Việt Nam; còn một số chỉ số đời của vị ấy trong Họ của mình, ví như mã số của Ngô Đình Giới (cao tổ Ngô Đình

Diệm) là: 32(10), tức Ngô Đình Giới ở vào đời thứ 32 của họ Ngô và là đời thứ 10 của họ Ngô Vạn Xuân. Việc làm này cũng là để giúp người đọc phân biệt đâu là Họ được chép từ phả xưa và đâu là Họ được chúng tôi nghiên cứu kết nối sau này.

 

  -  Thứ hai: Để giúp cho việc nghiên cứu kết nối có hiệu quả hơn, chúng tôi cho in tất cả các thế hệ con cháu từ Thủy tổ của mỗi chi họ cho đến con cháu mới ra đời do đó Phả hệ sẽ khá dài.

      Phả hệ tái bản lần thứ hai này gồm hai phần, mỗi phần in thành một quyển riêng: Quyển thứ I dành cho các Dòng, Họ đã nối thông tới Khởi tổ. Quyển thứ  II dành cho các Dòng, Họ còn chưa kết nối được. Với các Họ này, Họ nào đã có định hướng việc kết nối sẽ được đánh dấuà ở đầu trang để  phân biệt.

8. Phả hệ được trình bày theo phương pháp “cắt dọc”: Chép hết dòng trưởng mới đến dòng thứ; hết con trưởng mới đến con thứ, tức là trình bày theo kiểu “cuốn chiếu” từ trái qua phải. Các đời, trừ Thủy tổ và Khởi tổ thì chỉ đánh số 2, 3 .. . thay vì ghi Đời thứ 2, Đời thứ 3.. .

        Với các Họ chưa kết nối được, thì chép theo từng địa phương tỉnh. Tỉnh được xếp theo thứ tự A, B, C. Các huyện trong tỉnh cũng được xếp theo thứ tự để tiện cho việc tìm kiếm.

9. Trong Phả hệ xuất bản lần này, chúng tôi vẫn dùng hai thuật ngữ: Tốc độ sinh dọcHậu duệ với định nghĩa như dưới đây:

        Tốc độ sinh dọc là khoảng cách tính bằng năm giữa hai thế hệ kế tiếp trong một Họ nào đó. Tốc độ sinh dọc dùng để thay thế cho khái niệm vòng đời thiếu chính xác hay dùng trước nay.

         Thuật ngữ Hậu duệ tùy theo cách hiểu đã làm sai lệch một đời. Ta biết: Cửu tộc theo âm Hán Việt là: Cao-Tằng-Tổ-Khảo-Kỷ thân -Tử -Tôn -Tằng-Huyền. Cao là ông Cao tổ (hay ông Sơ), Tằng là ông Cố, Tổ là Tổ khảo tức ông nội, Khảo tức Hiển khảo là cha, Kỷ thân là ta-đương sự.  Tử là con, Tôn là cháu, Tằng tức tằng tôn là chắt, Huyền tức huyền tôn là chút. Trong Phả hệ lần này, chúng tôi dùng khái niệm Hậu duệ để chỉ số thế hệ bên dưới một người nào đó (không kể người đó). Nếu coi cụ M là Kỷ thân thì huyền tôn của Cụ M là cháu 5 đời cũng tức là hậu duệ 4 đời của Cụ.

10. Phả hệ họ Ngô Việt Nam lần này không bao gồm những nội dung khác, vì những nội dung ấy đã và sẽ lần lượt đăng trong Họ Ngô Việt Nam Xưa & Nay tức Niên San họ Ngô.

         Phả hệ họ Ngô Việt Nam cùng Họ Ngô Việt Nam Xưa & Nay  là những tư liệu chính thống, quí báu của dòng họ Ngô. Những tài liệu từ trước đến nay do Ban Liên lạc (nay là Hội đồng Ngô tộc) họ Ngô Việt Nam phát hành trái với những nội dung trong hai tài liệu chính thống trên coi như không còn giá trị.

                                                                                                            Người biên soạn Phả hệ (tái bản lần thứ hai)

                                                                                                                                                Ngô Vui

 

 

 

                              PHẦN THỨ NHẤT

          LƯỢC PHẢ ĐỒ CÁC DÒNG TỪ KHỞI TỔ

 

 

I.                               NHỮNG ĐỜI ĐẦU TIÊN

(Thế kỷ VIII-X)

 

Khởi tổ                              NGÔ NHẬT ĐẠI (1)  吳日大

Tương truyền là Hào trưởng châu Phúc Lộc.

 Tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 722.

Sau thất bại chuyển cư ra châu Ái. Lập nghiệp bằng nghề nông

 
 
 

 


2.                                      NGÔ NHẬT DỤ  吳日裕

                                                                              Đại nho

                                                                    Liêu tá Phủ đô hộ (2)

 
 
 

 


3.                                      NGÔ ĐÌNH HẠO   吳廷昊  

          

 

4.                                      NGÔ ĐÌNH THỰC 吳廷實

                                                                           Hào trưởng

 
 
 

 


5.                                      NGÔ ĐÌNH MÂN 吳廷旻

                                                   Mục Đường Lâm, Mục Phong Châu

                                                       Cụ bà: Phùng Thị Tịnh Phong

                                                            Quê quán: Đường Lâm   

 
 
 

 

 


6.               NGÔ QUYỀN 吳權                  NGÔ TỊNH吳淨

 

Chú giải: 

(1) Theo “Thần tích đền Cấm và An Trì (Hải Phòng) thì: Tiên tổ Ngô Quyền tên là Tùng vốn người Bắc quốc, cuối thời Đông Hán vì loạn to, khổ vì siêu dịch phải chạy lánh sang nước Nam, lấy vợ ở Đường Lâm, người họ Đỗ. Ông sinh ra ba trai là Tương, Lý, Đỗ. Tương sinh Vinh. Vinh sinh 6 trai, trưởng là Xuân. Xuân giúp Triệu Quang Phục chống đô hộ. Xuân sinh Hoa. Hoa sinh Côn. Côn lấy vợ người họ Phạm ở Đường Lâm, sinh hai trai, một gái, trưởng là Ngô Quyền”.

        Theo thần tích này, phả hệ những đời đầu họ Ngô là:     

Đời 1:  Tùng-sang Việt Nam thời Đông Hán (25-220)

Đời 2:  Tương

Đời 3: Vinh

Đời 4: Xuân- giúp Triệu Quang Phục (549-570)

Đời 5: Hoa

Đời 6: Côn

Đời 7: Ngô Quyền (897-944)

        Đối chiếu với niên biểu, thì: Từ Tùng tới Ngô Quyền là 7 đời, mà thời gian tới 670 năm (tính từ năm cuối của thời Đông Hán là năm 220 tới năm sinh của Ngô Quyền là 897). Mỗi đời cách nhau gần 100 năm là điều không thể có được.

        Vả lại, thần tích ở hai đền Cấm và An Trì cũng không rõ ai viết và viết vào đời nào để làm cơ sở nghiên cứu.

         Do đó thuyết này là không có cơ sở và không đúng về niên biểu. Nhưng chúng tôi vẫn ghi lại để cùng nghiên cứu.

         Phả đồ chúng tôi giới thiệu trên là căn cứ vào bản phả do Hán Quốc công Ngô Lan biên soạn năm 1477.

 

(2) Phủ đô hộ được lập năm Đường Đại Lịch thứ 3-768, như vậy Khởi tổ Ngô Nhật Đại tham gia cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan năm 722 là phù hợp. Trong lần tái bản thứ nhất năm 2011, chúng tôi đã không đề cập đến chi tiết này vì khi ấy chưa xác định được năm ra đời của Phủ đô hộ.

 

6.                                          NGÔ QUYỀN (897- 944) (1)

                                                            TIỀN NGÔ VƯƠNG (938-944)

                                                    Dương Thị Như Ngọc – người Thanh Hóa

Dương Phương Lan – người Hà Đông

 
 
 

 

 

 7.       NGÔ XƯƠNG        NGÔ XƯƠNG       NGÔ NAM    NGÔ CÀN

                NGẬP                     VĂN                   HƯNG          HƯNG (4)

           吳昌岌             吳昌文           吳南興          吳乾興

                    (? - 954)                       (935-965)     

      Thiên Sách Vương (2)     Nam Tấn Vương (3)

      Phạm Thị Uy Duyên      Dương Vân Nga

                                             Lý Thị Ngọc Dư

                                      HẬU NGÔ VƯƠNG

       
   
 
 
 

 

 

 


 8.  NGÔ XƯƠNG      NGÔ XƯƠNG        NGÔ NHẬT              NGÔ NHẬT

               (5)                    TỶ (6)                 KHÁNH (7)                 CHUNG  

       吳昌熾               吳昌屣           吳日慶              吳日鍾                  

 Sứ quân Bình Kiều  (Ngô Chân Lưu)   Sứ quân Đường Lâm      Điền chủ

                               Khuông Việt Đại sư       Hậu duệ ở                 Đỗ Động

Lý T. Khoan Dung (933-1011)                      Đồng Thanh                                                 

                                                                      Tân Bình

                                                                     TP. Thái Bình

 

 9.  NGÔ XƯƠNG SẮC   NGÔ ÍCH VỆ                             NGÔ NHẬT MIMH

           吳昌              吳益衛                               吳日銘  

                                                                                          (thất truyền: tt) 

 

 

    Đến đời thứ 9, chỉ còn  hai con của Ngô Xương Xí, phân thành hai ngành Trưởng, Thứ.

 

 

6.                                           NGÔ TỊNH 吳淨

                                                              Trấn thủ Kỳ Hoa

 
 
 

    

 

7.   NGÔ TIẾN     NGÔ HOAN       NGÔ VỊ    NGÔ NGÂN   NGÔ MỤC

        吳進           吳讙              吳遺         吳鄞          吳牧             

       Tăng thống     Hào trưởng             Mục          Quản chùa           Mục

       Quản chùa        Kỳ Hoa           châu Hoan      Nhu Hành         châu Ái  

       Thiên Phúc   

 

                                    (Dòng Ngô Tịnh thất truyền từ đây)

 

 

Chú giải:

 

(1)  NGÔ QUYỀN sinh ngày 12 tháng Ba năm Đinh Tỵ (897) ở Đường Lâm, mất ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Thìn (944). Theo phả, sử thì năm Ngài 20 tuổi, cha mẹ đều mất cả, Ngài quay vào châu Ái tức Thanh Hóa làm nha tướng của Dương Đình Nghệ. Lúc này Dương Đình Nghệ là nha tướng của Khúc Hạo đang đóng quân bản bộ ở đó.

Năm 923, sau 6 năm lập quốc, nhà Nam Hán đem quân sang xâm lược nước ta lần thứ nhất đánh bắt được Khúc Thừa Mỹ. Họ Khúc dấy nghiệp được 17 năm thì mất (906-923). Lúc này lực lượng của Dương Đình Nghệ chưa đủ mạnh, Ngô Quyền vừa là tướng tâm phúc vừa là con rể đã cùng chủ tướng củng cố hậu phương, xây dựng quân đội trong 8 năm, đến đầu năm 931, Ngô Quyền cùng Dương chủ tướng mới kéo quân từ Ái Châu ra Bắc tiêu diệt Nam Hán đoạt lại chức Tiết độ sứ Giao Châu. Sau chiến thắng, Dương Đình Nghệ  sai Ngô Quyền lại quay về quản lý Ái Châu.

 Ở Ái Châu, năm 937 được tin Kiều Công Tiễn đã giết hại Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ để tiếm quyền và chiếm lấy thành Đại La. Ngô Quyền đã phair kèm nén lòng căm thù kẻ phản chủ, tiếp tục củng cố lực lượng và tạo dung thời cơ trong 20 tháng nữa.

Đoán biết thế nào Ngô Quyền cũng đem quân ra hỏi tội, nên tên phản

chủ Kiều Công Tiễn đã lộ mặt là kẻ bán nước, sai người sang cầu cứu nhà Nam Hán. Vua Nam Hán Lưu Cung thấy đây là một cơ hội tốt để xâm chiếm nước ta một lần nữa, cũng là để trả thù cho lần thất bại 6 năm về trước, bèn phong cho con là Hoằng Tháo làm Giao Vương và sai đem quân sang cứu Công Tiễn để thừa thế hòng cướp nước ta.

 Đứng trước nguy cơ đất nước lại bị phương Bắc xâm lược và nhận thấy hành động bán nước của Công Tiễn đang làm phương hại đến sự nghiệp giành lại quốc quyền cho dân tộc mà họ Khúc, Họ Dương đã mưu đồ trong 30 năm, Ngô Quyền bèn đem quân ra Bắc một lần nữa.

Tháng đầu mùa đông năm Mậu Tuất (938), được quân dân cả nước theo về, Ngô Quyền đã hạ thành Đại La, giết tên gian thần bán nước Kiều Công Tiễn, trừ mối họa  bên trong. Rồi đó Ngài tổ chức chống giặc ngoài. Trận địa cọc ở cửa sông Bạch Đằng đã bày sẵn! Tháng 12 năm ấy, nơi đây đã là mồ chôn quân xâm lược Nam Hán cùng chủ tướng của chúng là Lưu Hoằng Tháo. Trận đánh chỉ diễn ra trong vòng một con nước triều, tức là chưa đầy một ngày, không chỉ đánh tan trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo mà còn chôn vùi vĩnh viễn tham vọng xâm chiếm nước ta của nhà Nam Hán suốt từ đó cho đến khi bị diệt vong vào năm 971.

Mùa xuân năm sau, năm 939, Ngô Quyền tức vị xưng Vương, giành lại quyền độc lập tự chủ cho đất nước sau hơn 1000 năm Bắc thuộc. Vì muốn xây dựng một nhà nước độc lập không lệ thuộc vào ngoại bang, nên Ngô Quyền đã không thỉnh mệnh mà tự lập. Có lẽ các nhà chép sử đã vin vào cớ này mà xếp triều đại nhà Ngô vào “Ngoại kỷ”, tức là xếp ngồi xuống “chiếu dưới” các triều đại về sau là điều không thỏa đáng.

Sử gia Lê Văn Hưu đã từng nhận xét: “Tuy chỉ xưng Vương chưa lên ngôi Đế đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta, ngỏ hầu đã nối lại được”.

Chỉ vì Vương với Đế mà nhà Ngô không được coi ngang hàng với các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần .. sau đó. Về Vương và Đế, thì các sử gia biết rõ hơn ai hết là các triều đại sau triều nhà Ngô ở nước ta dẫu có xưng Đế thì cũng chỉ xưng trong nhà, còn khi sang Tàu thỉnh mệnh thì cũng chỉ dám xưng Vương mà thôi! Vậy thử hỏi giữa việc có thỉnh mệnh và không thỉnh mệnh thì đằng nào hơn? Thực ra thỉnh mệnh chỉ là sách lược mềm dẻo mà thôi. Chính vì thế mà Anh hùng lao động-Nhà Văn hóa Việt Nam-Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giáo sư Vũ Khiêu đã nhận xét: ”Như đối với Ngô Quyền chẳng hạn, chúng ta chưa đặt được vào một vị trí lịch sử xứng đáng hơn, chưa làm nổi bật lên vai trò của người anh hùng dân tộc đã chính thức kết thúc một ngàn năm sống và chiến đấu gian khổ dưới ách thống trị của phương Bắc, người đã với chiến công oanh liệt của mình mở đầu cho thời kỳ độc lập tự cường chủa dân tộc”. Và “về mặt tưởng niệm cũng chưa có công trình nào đáng kể về xây dựng đền đài, lăng miếu nang tầm với danh nhân khác”.

 Một trăm năm trước, chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu đã suy tôn Ngô Quyền là “Vị tổ trung hưng đất nước” sau các vị tổ dung nước là các Vua Hùng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của Cách mạng Việt Nam thời hiện đại đã từng ca ngợi Ngô Quyền bằng mấy câu thơ tuy mộc mạc nhưng vô cùng sâu sắc:

                        Ngô Quyền người ở Đường Lâm.

                        Cứu dân thoát khỏi cát lầm ngàn năm

Cả hai sự đánh giá đó, bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng đều biết đều nhớ. Ấy vậy mà cho mãi tới ngày nay, giới sử học nước nhà vẫn chưa có một động thái nào để xóa bỏ thiên kiến đó.

Nhưng, theo nhà sử học Lê Văn Hưu, “thì dù thế nào đi nữa, Tiền Ngô Vương vẫn là một vị vua mưu tài đánh giỏi, làm nên công tái tạo, đứng đầu các vua”. Và chiến thắng Bạch Đằng mùa đông năm 938 là “cơ sở sau này cho việc khôi phục quốc thống. Những chiến công các đời Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn nhờ vào uy danh lẫm liệt ấy để lại. Trận Bạch Đằng là võ công cao cả, vang dội đến nghìn thu há phải chỉ lừng lẫy một thời bấy giờ mà thôi đâu”-như lời sử gia Ngô Thời Sĩ viết trong Việt sử tiêu án.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 không chỉ có ý nghĩa là dấu chấm hết ách đô hộ của phong kiến phương Bắc suốt một ngàn năm đối với nước ta, mà còn có ý nghĩa là điểm mở đầu cho nghệ thuật thủy chiến của dân tộc ta. Đúng 350 năm sau trận đánh Bạch Đằng lần thứ nhất ấy, nghệ thuật thủy chiến đó đã được nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn kế thừa và phát huuy: Cũng bằng trận địa cọc trên cùng con sông ấy đã tiêu diệt sáu vạn quân xâm lược, kết thúc cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ ba năm 1288.

Ngô Quyền không chỉ để lại cho hậu thế “võ công cao cả vang dội đến ngàn thu”, mở ra cho đất nước ta một kỷ nguyên  mới: kỷ nguyên độc lập tự chủ của chế độ phong kiến Việt Nam, mà còn để lại lớp lớp hậu duệ luôn biết giữ gìn những phẩm giá cao đẹp tổ tiên để lại, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước mà Ngài đã giành lại được từ tay phong kiến phương Bắc, cả về võ công lẫn văn trị như Khuông Việt  Đại sư Ngô Chân Lưu, Ngô Tuấn-Lý Thường Kiệt,.. Ở bất kỳ thời đại nào, ở bất kỳ thế hệ nào cũng đều có con cháu Ngài biết nói noi tiên tổ, dám xả thân vì độc lập tự do của tổ quốc, vì sự phồn vinh của đất nước. Gần 30 anh hùng, hơn 1000 liệt sĩ họ Ngô trong thời đại Hồ Chí Minh đã minh chứng điều đó.

Trong ba kỳ Đại hội Ngô tộc toàn quốc lần thứ VI năm 2004, lần thứ VII năm 2008 và lần thứ VIII năm 2011, tại Lễ dâng hương tưởng niệm Ngô Quyền vào ngày giỗ 18 tháng Giêng, Ban liên lạc họ Ngô Việt Nam (nay là Hội đồng Ngô tộc) đã nêu ra vấn đề Vương-Đế cũng như Bản kỷ-ngoại kỷ mong góp một tiếng nói góp phần đòi lại sự công bằng cho triều đại nhà Ngô trong tiến trình lịch sử dân tộc; chứ hoàn toàn không phải vì lợi ích riêng của dòng họ.

  Nguyên ủy của sự việc như sau: Trước kia khi biên soạn Đại việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên đã căn cứ vào Đại việt sử ký của Lê Văn Hưu mà cấu tạo bộ sử của mình thành hai phần: Ngoại kỷ Bản kỷ. Ranh giới giữa hai phần là triều Ngô: Từ triều Ngô trở đi là thuộc Bản kỷ. Sau  khi Ngô Sĩ Liên mất, Vũ Quỳnh là người đã “hất” triều Ngô xuống “chiếu dưới”. Về sau, sang thế kỷ thứ 17, Phạm Công Trứ (1600-1675) cũng theo thế và ngày nay vẫn như thế. Nghĩa là suốt gần 500 năm qua vẫn giữ nguyên tình trạng ấy.

 Chúng tôi xin nêu bối cảnh lịch sử của việc Ngô Quyền không thỉnh mệnh mà xưng vương để chúng ta cùng suy xét. Đó là thời kỳ đất nước Trung Hoa rối loạn nhất trong lịch sử năm ngàn năm của nước này: Thời Ngũ đại-Thập quốc. Chỉ trong vòng 54 năm từ năm 907 đến 960 mà có đến 5 triều đại: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu kế tiếp nhau làm vua, mỗi nhà mấy năm. Ngoài “Ngũ đại” ra còn có “Thập quốc”. Trong số 10 nước thì ở phía nam Trung Quốc có đến 9 nước cũng sát phạt thôn tính nhau. Trong 9 nước ở phía Nam thì nước mạnh nhất, tồn tại lâu nhất và có chung biên giới với nước ta là Nam Hán; nước mà Ngô

Quyền vừa đánh cho đại bại vào cuối năm 938, đến nỗi suốt hơn 30 năm tiếp theo cho đến khi bị diệt vong, không còn dám mơ  tưởng tới nước ta nữa.

 Trong bối cảnh lịch sử đó, nếu Ngô Quyền có ý định thỉnh mệnh thì sẽ thỉnh mệnh nước nào? Sang thỉnh mệnh chính vua Nam Hán Lưu Cung, kẻ đã bị Ngô Quyền giết mất thế tử Lưu Hoằng Tháo vừa mới một tháng trước ư? Hay là vượt qua hàng ngàn cây số lên phía Bắc để thỉnh mệnh Cao Tổ Thạch Kính Đường (936-942) của nhà Hậu Tấn-vị vua mà lịch sử Trung Quốc đánh giá là “chẳng khác gì tối tớ của Khiết Đan”?

 Qua đó cho thấy các nhà chép sử nước nhà đã không đọc kỹ sách thánh hiền lại đi trách nhầm vị anh hùng đã “cứu dân thoát khỏi cát lầm ngàn năm”.

Còn nếu nói nhà Đinh vì đã có công thống nhất nước Đại Việt, nên triều đại chính thống của nước Việt ta phải tính từ đó, thì thử hỏi: nếu không có điểm mở ra là chiến thắng Bạch Đằng năm 938, thì liệu có sự thống nhất nước nhà của nhà Đinh được không?

Gần đây chúng tôi phát hiện được Ngô Quyền còn có bà phi thứ ba, sinh được 3 công chúa và cả 4 mẹ con bà đều hy sinh trong cuộc chiến chống lại Trần Minh công (Trần Lãm) để bảo vệ vương triều nhà Ngô. Bốn mẹ con bà được thờ ở Đền Lê Xá-An Cầu xã Tống Trân huyện Phù Cừ, Hưng Yên.

(2)  NGÔ XƯƠNG NGẬP: con trưởng Tiền Ngô Vương, kế vị ngôi vua. Bị cậu là Dương Tam Kha cướp ngôi, chạy về Nam Sách (Hải Dương) dựa vào Phạm Lệnh công, được Phạm gả con gái cho. Năm 951, Ngô Xương Văn giành lại được ngôi vua, mời Xương Ngập về cùng trông coi triều chính với hiệu là Thiên Sách Vương. Mất năm 954.

(3)  NGÔ XƯƠNG VĂN: Con thứ Tiền Ngô Vương, được Dương Tam Kha nhận làm con nuôi, gả Dương Vân Nga cho làm vợ (Theo phả họ Dương thì Dương Vân Nga là con người anh của Tam Kha tên là Nhị Kha). Nhị Kha mất sớm, Vân Nga về ở với chú, chứ không phải Dương Vân Nga là con Dương Tâm Kha. Cũng cần lưu ý rằng tên Vân Nga là do hậu thế đặt, chứ không phải tên trong gia phả họ Dương). Năm 951 giành lại được ngôi vua, không giết Dương Tam Kha, mà phong là Bình Vương, mời anh về trông coi triều chính, xưng là Nam Tấn Vương, đi dẹp loạn bị trúng tên độc, mất năm 965.

(4)  NGÔ NAM HƯNG, NGÔ CÀN HƯNG: Thất truyền. Có thể là con bà Dương Phương Lan, người Chương Mỹ, Hà Đông. Hiện nay ở đình Phương Tiết, huyện Ứng Hòa, Hà Tây (nay là Hà Nội) còn thờ Tiền Ngô Vương và bà Dương Phương Lan.

        Theo Hưng Yên nhất thống chí (A968-Viện Hán Nôm), ở xứ Kê Lạc xã Nghĩa Chế (nay là Dị Chế, Phù Tiên, Hưng Yên) có đền thờ Ngô Vương (dân gian gọi là Đền Vương- Quán Rác) có mộ hai Vương và bà mẹ họ Dương. Phải chăng đó là đền thờ và mộ bà Dương Phương Lan và hai con trai của Tiền Ngô Vương?

(5)NGÔ XƯƠNG XÍ: Con trưởng Ngô Xương Ngập, cháu nội Tiền Ngô Vương là người kế vị ngôi vua sau khi Hậu Ngô Vương-Ngô Xương Văn tử trận năm 965. Khi đó trong triều xảy ra biến loạn, các thế lực phong kiến các địa phương nổi dậy, hùng cứ các nơi, tranh giành nhau quyết liệt: Đó là loạn 12 sứ quân. Ngô Xương Xí lui về chiếm giữ Bình Kiều. Hiện nay ở đó còn các vết tích thành lũy thuộc các xã Hợp Tiến, Hợp Thành (huyện Triệu Sơn). Năm 967, khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan các sứ quân, Ngô Xương Xí về ẩn cư ở ở vùng thượng du châu Ái (Thanh Hóa).

(6) NGÔ XƯƠNG TỶ-NGÔ CHÂN LƯU (933-1011): Con thứ Ngô Xương Ngập, sinh tại châu Ái, lớn lên ở làng Cát Lợi quận Thường Lạc, nay là làng Cát Lợi (Cát Lỵ) huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa (ở giữa thị trấn Còng và ga xe lửa Văn Trai).

        Xuất gia ở chùa Phật Đà, thụ giáo Văn Phong Thiền sư ở chùa Khai Quốc, được truyền tâm ấn, đứng vào thế hệ thứ tư dòng thiền Quan Bích. Năm 971 được Đinh Tiên Hoàng phong chức Tăng thống (chức quan phong cho vị sư được triều đình coi là người đứng đầu Phật giáo -ĐVSKTT-Tập I, tr. 212) và ban hiệu Khuông Việt Đại sư.

(7) NGÔ NHẬT KHÁNH: Con cả Hậu Ngô Vương-Ngô Xương Văn và bà Dương Vân Nga. Khi Hậu Ngô Vương mất, xảy ra loạn 12 sứ quân. Ngô Xương Xí bỏ ngôi chạy về Bình Kiều, Ngô Nhật Khánh về chiếm cứ Đường Lâm, xưng Ngô Lãm công-Sứ quân Đường Lâm.

         Năm 967, Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan các sứ quân, bức hàng Ngô Nhật Khánh. Đến tháng 10  năm 979, vua Đinh và Nam Việt  Vương Liễn bị Đỗ Thích giết.  Triều thần tôn Vệ Vương Toàn lên ngôi Hoàng đế, tức là Phế Đế.  Phế Đế lên ngôi lúc mới 6 tuổi, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn tự xưng Phó Vương nhiếp chính.

          Khi ấy, Đinh Điền, Nguyễn Bặc lo sợ Hoàn cướp ngôi ấu chúa, mới chia hai đường thủy bộ tiến về kinh đô Hoa Lư đánh Hoàn, nhưng không đánh nổi, bị Hoàn giết cả. Vua Chiêm Thành Ngô Nhật Hoan (980-986) thấy thế, liền đem hơn nghìn chiếc thuyền theo hai cửa biển Đại Ác và Tiểu Khang tiến đánh Hoa Lư, gặp bão, thuyền đắm quân lính chết phải rút về.

        Các nhà chép sử, do nhầm lẫn vua Chiêm Thành Ngô Nhật Hoan và Ngô Nhật Khánh, nên đã viết: Sau khi bức hàng Ngô Nhật Khánh, vua Đinh lập mẹ ông làm Hoàng hậu, gả con gái là công chúa Phật Kim cho ông, cưới con gái ông cho Đinh Liễn. Mặc dù vậy, Nhật Khánh vẫn oán hận, đem cả vợ (giết vợ?) chạy vào Chiêm Thành, dẫn quân Chiêm ra đánh lại nước ta.

         Việc Ngô Nhật Khánh bị hàm oan, rất cần giới sử học xem xét và cải chính. Ngô Nhật Khánh được thờ làm Thành hoàng ở Phù Sa Hạ xã Hoàng Nam huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định.

       Có ý kiến cho rằng việc Ngô Nhật Khánh được thờ làm thành hoàng vì ông là một sứ quân, chứ chưa thể biện minh cho việc ông chạy vào Chiêm Thành dẫn quân Chiêm ra đánh lại nước nhà.

      Theo chúng tôi đó là cách nhìn phiến diện, bảo thủ. Dân ta rất công tâm luôn tôn thờ người có công với dân với nước (kể cả quan cai trị phương Bắc), nhưng quyết không bao giờ tôn thờ kẻ phản quốc. Nếu đúng như chính sử viết  thì Ngô Nhật Khánh phạm tội phản quốc, còn nặng tội hơn Kiều Công Tiễn, vậy sao dân lại lập đền thờ.

         (Chi tiết xin xem bài  Đền thờ và hậu duệ Ngô Nhật Khánh trong Nội san họ Ngô số đầu tiên năm 2009).