Thứ hai, 02/07/2012, 13:48:46 GMT+7
Danh mục
Họ Ngô

Thống kê truy cập

Lượt truy cập: 350342
Số người online: 33

Di sản Hán Nôm Việt Nam

19/07/2013

 

 






DI SẢN HÁN NÔM VIỆT NAM

THƯ MỤC ĐỀ YẾU

NXB KHOA HỌC XÃ HỘI 1993

THƯ VIÊN QUỐC GIA: VV 353/93            

 

                                                              TẬP MỘT


16. AN NAM HÀ TIÊN THẬP VỊNH A.441

      Mười thắng cảnh Hà Tiên: Kim dữ lan đào (Đảo vàng chắn sóng), Bình sơn điệp thúy (Bình sơn núi biếc), Tiêu tự hiểu chung (Chuông sớm chùa Tiêu), Giang Thành dạ cổ (Trống đêm Giang Thành), Thạch Động thôn vân (Thạch Động ngậm mây), Chu Nham lạc lộ (Cò đậu Chu Nham), Đông Hồ ấn nguyệt (Trăng rọi Đông Hồ), Nam Phố trưng ba (Sóng yên Nam Phố), Lộc Trỉ thôn cư (Thôn cư Lộc Trỉ) và Khê ngư bạc (Thuyền đậu Lư Khê).

93. BÁI DƯƠNG NGÔ THẾ VINH KINH HỒI TIỄN HÀNH.               A. 2639

     Thơ của bạn bè, học trò...tiễn Ngô Thế Vinh về quê dưỡng lão.

     Dươngg đình Ngô Thế Vinh biên tập.    : 56

94. BÁI DƯƠNG NGÔ TIÊN SINH THI TẬP  A.2449.

     350 bài thơ của Ngô Thế Vinh  dùng làm khuôn mẫu cho học trò và 350 bài thơ luyện thi ở trường Ngô Thế Vinh.                    : 56

95. BÁI DƯƠNG THI TẬP.              VHv. 142  

     382 bài thơ của Ngô Thế Vinh làm trong 2 năm 1841-1842, gồm thơ thuật sự, vịnh sử, cảm hoài,...                                                  :57

96. BÁI DƯƠNG THƯ TẬP.          VHv. 139 

     Tập văn của Ngô Thế Vinh, gồ thư từ trao đổi với đồng liêu, bạn bè, câu đối, văn mừng,..

Văn bia 12 đời vua Trần, văn bia nhà thờ họ Đoàn, họ Đào,...                                : 57

103. BẢN QUỐC DỊ VĂN. A. 3178 , A.3197

     30 truyện lạ, gồm truyện dân gian; truyền thuyết lịch sư; giai thoại, truyền thuyết về các nhân vật lịch sử. Trong phần sau cùng này,có bài viết về Ngô Tuấn Cung.                : 62

     (Dân gian có câu: Tuấn Cung, Tuấn Dị hữu nhị vô tam).

234. CHIẾU BIỂU PHÚ HỢP TUYỂN          VHv. 1926

       Đầu đề 3 kì thi Hội năm Ất Sửu (1965); một số bài văn sách, thơ phú của những người thi đỗ, trong đó có Ngô Văn Phát.

262. BÌNH VỌNG NGUYỄN THỊ GIÁP PHÁI GIA PHẢ.               A. 634

     Gia phả chi Giáp của họ Nguyễn l. Bình Vọng, h. Thượng Phúc, ph. Thường Tìn. Chi này vốn trước là họ Lê.

     Do Kính Trai Nguyễn Thức biên  tập, Ngọc Đường Nguyễn Dư hiệu chỉnh năm 1828, Tùng Hiên Nguyễn Triết Huân viết tựa 1829    :157.

279. BỒI TỤNG CÔNG VĂN TẬP  A. 527

     Cựu văn ban Ngô Trọng Khuê biên tập. Thơ văn của Ngô Duy Viên (tức Ngô Trọng Khuê), làm quan Bồi tụng cuối đời Lê, gồm: thơ dạy con, tuyệt bút, tiễn bạn bè....                : 165

295. BÚT HOA TÙY LỤC.          A. 2690

     Hương Thụ Sơn Nhân biên tập năm 1893.

     Văn thơ mừng Nguyễn Đỉnh Thần đỗ TS (1892) của những người trong họ trong thôn, họ ngoại và của: Hoàng Cao Khải, Ngô Quang Huy, Bùi Hướng Thành,...                  : 174.

        (Có lẽ là Nguyễn Đĩnh: La Chử, Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế)

340. CẢM ỨNG THIÊN GIẢI ÂM.  AN. 116

     Gồm nguyên văn chữ Hán và bản dịch Nôm của Ngô Văn Bỉnh, hiệu Cúc Hòe.    : 199

376. CẢO PHONG CÔNG THI TẬP. A. 516

     Thơ văn của Ngô Duy Viên làm chức Bồi tụng vào cuối thời Lê. Có thơ tiễn Lê Quí Đôn đi làm Tuần phủ Thuận Hóa, thơ tặng Bùi Huy Bích. Nhiều bài làm dưới thời Quang Trung: biểu tạ ơn khi được triệu vào Phú Xuân,..  : 225

454. CHIÊU QUÂN CỐNG HỒ TRUYỆN

                 VNb.  70

     Truyện thơ Nôm 6-8, chia thành 40 đoạn, kể lại chuyện Chiêu Quân: nàng nguyên tên là Vương Tường, con gái viên quan Tri phủ họ Vương ở Việt Châu, có nhan sắc, lại có tài thi họa, được đón vào cung làm Vương phi. Quan Khâm sai Mao Diên Thọ hận vì không được cha con họ Vương trọng đãi, đã tìm cách làm hại, buộc Hán Nguyên Đế phải đem nàng cống cho vua Phiên. Trên đất Hồ, Chiêu Quân đã khéo léo mượn tay vua Phiên để diệt tên phản thần Mao Diên Thọ, và thả các tướng Hán đang bị Phiên giam giữ. Nàng lại yêu cầu vua Phiên bắc cho chiếc cầu nổi, nói là để tế thần Bạch Dương. Sau lễ tế, Chiêu quân đã từ trên cầu gieo mình xuống sông tự tử, giữ trọn tiết trinh. Em gái nàng, Trại Chiêu Quân, được Tiên ban cho phép lạ, lại được tuyển làm Chánh cung, đem quân đánh Hồ, báo thù cho chị và rửa hận cho nhà Hán.                                  : 267

526. CHƯ ĐỀ MẶC.         VHv. 18

     Trong tập thơ văn đề vịnh này, có Nhị Thanh động mặc tích gồm thơ, phú, bi kí về động Nhị Thanh ở Lạng Sơn. Bài tán về bức tranh truyền thần và bài phú động Nhị Thanh của Ngô Thì Sĩ.                                                         : 310

552. CỐ LÊ TẢ THANH OAI TIẾN SĨ NGÔ THÌ SĨ CÔNG THI SAO=CỐ LÊ NGỌ PHONG MẶC NGẤN.         VHv. 21

     Gồm 3 tác phẩm:  1. Nhị Thanh thi văn tập

2. Quan lan tập 3. Vọng triều tập.   : 325

564. CỔ KIM TRÙNG TÍNH TRÙNG DANH KHẢO.                           VHb. 271

      Bảng tra các nhân vật lịch sử trùng họ, trùng tên từ xưa cho đến thời cận đại. Dưới tên mỗi người có ghi rõ quê quán, thời đại, chức tước.

     Đặng Xuân Khanh, hiệu Mai Phong  biên tập.                                                           :336

597. CÚC ĐƯỜNG BÁCH VỊNH THI TẬP.   A. 1168

    Trong đó có thơ xướng họa giữa Ngô Thì Nhạm và Phan Huy Ích.                         : 355

609. CÚC THU BÁCH VỊNH TẬP.   A. 1554

     100 bài thơ xướng họa giữa Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm trong dịp tết Trùng Dương:362.

637. CỨU SINH TRỊNH THÁNH TỔ SỰ TÍCH.  VHv. 2946.   

     Sự tích Hòa thượng Trịnh Hợp: ông tên húy Như Như, tên hiệu là Lân Giác, người Sóc Sơn, Vĩnh Phú là con thứ 11 của Tham tể Tấn Quang Vương. Trịnh Hợp sinh năm 1696, lớn lên rất thông minh, tuấn tú, được vua Hy tông gả Công chúa. Nhưng ông bỏ di tu ở chùa Yên Tử. Sau trở thành Bồ Tát.                                     : 374.

 666. DANH HỔ KHIẾU ĐỘNG SAN THÀNH LƯU ĐỀ THẠCH BÍCH THII TỊNH KÍ =HỒ KHIẾU ĐỘNG ĐỀ THI TỊNH KÍ.

 VHv. 1787 

     Có bài kí của Ngô Thúc Hựu đề ở động Hồ Khẩu, trên núi Hổ, h. Vụ Bản.               : 392

695. DAO ĐÌNH THI TẬP.               A. 1852

     Trong đó có Quan Lan Sào thập cảnh gồm 129 bài thơ của Ngô Thì Sĩ và một số người khác đề vịnh các thắng cảnh ở x. Cự khánh, h. Đông Sơn, Thanh Hóa.                        : 407       

701. DI ÁI XÃ TRẦN GIA PHẢ KÍ. A.681

     Hành trạng Trần Mô: ông nội Mô là Trần Thánh Ca, người Phúc Kiến, TQ, tránh loạn đời Thanh đến x. Di ái, h. Dan Phượng làm nghề dệt gấm. Trần Mô đỗ TS năm 1733, làm Đông các Đại học sĩ.                                     : 410

708. DI TRẠCH ĐƯỜNG PHẢ KÍ.   A. 1294

     Gia phả 6 đời họ Nguyễn Huy ở x. Phú Thị, h. Gia Lâm, có thơ văn của Nguyễn Huy Cận.

     Tiền quân Văn hầu Nguyễn Huy Doanh, biên tập, Viên Am Nguyễn Huy Quýnh hiệu đính,  Ngô Quế Hương viết tựa từ 1802-1804.

746. DU HƯƠNG TÍCH ĐỘNG KÍ.  A. 2814

     Trong đó có: Du Hương Tích động thi tập: do  Án sát  Hà Nội Đặng Lương Hiên soạn, Nguyễn Chí Đình phẩm bình, TS Nguyễn Tùng Thúc phê duyệt, TS Ngô Tham bình luận.  : 431

782. DƯƠNG ĐÌNH PHÚ LƯỢC.   VHv. 430     

     Những bài phú của Ngô Thế Vinh và các tác giả khác như Đỗ Phát, Ngô Bảo Phong, Phạm Vĩ, Dặng Huy Trứ...                             : 451

783. DƯƠNG ĐÌNH PHÚ PHẢ.       A. 1607

     65 bài phú của Ngô Thế Vinh, dùng làm mẫu cho lối văn thi cử.                         : 451

784. DƯƠNG ĐÌNH TANG SỰ THI TRƯỚNG ĐỐI LIÊN TẬP.                       A.1243

     Thơ, văn tế, văn đối sử dụng trong dịp lễ tang của thân phụ, thân mẫu, anh cả (tên là Tùng Hiên), con trưởng (tên là Ngô Thế Quý) của Dương Đình.                                

     Môn sinh, CN Vũ Doãn Khải biên tập:   451

785. KHẤP VÃN DƯƠNG ĐÌNH THI TRƯỚNG TẬP.                       A. 1302

     Thơ, trướng văn, câu đối, văn tế, ...của đồng liêu, bạn hữu, đồng tộc khóc Ngô Thế Vinh, trong đó có những tác giả như Đỗ Trọng Khiêm, Nguyễn Văn Đạo, Nguyễn Giang Hiên, Giám Hồ, Ngụy Khắc Tuần, Phạm Văn Nghị, Nhữ Bá Sĩ, Hà Tông Quyền,..            : 452

811. ĐẠI ĐIÊN THÁNH SỰ TÍCH.   A. 2721

     Sự tích thánh Đại Điên ở th. Tiền, x. Dịch Vọng, h. Từ Liêm: Ông tên húy là Lê Nghĩa, một nhà sư triều Lý, đạo thuật rất tinh thông, có công giúp vua. Sau khi  mất, ông được phong là Lê Đại Điên Giác Hoàng Thiền Sư và đượcc dân x. Dịch Vọng lập đền thờ.

     Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc thứ nhất (1572), Nguyễn Hiền phụng sao năm Vĩnh Hựu 3 (1737). Chép lại vào năm Duy Tân 9(1915):466

825. ĐẠI MỖ NGUYỄN TỘC TÂM ĐẠI VƯƠNG PHẢ KÍ. VHv. 1337, VHv. 1338

      Trong đó có  Thám hoa quốc lão trí sĩ Thái tể đại vương phả kí do Hà Tông Huân, Nghiêm Bá Đĩnh soạn năm Vĩnh Hựu 2 (1936) ghi về hành trạng của Nguyễn Quý Đức.         :  473

871. ĐẠI NAM QUỐC TÚY.           AB. 178

     1800 câu phương ngôn, tục ngữ, xếp thành 46 bài (mục). Ngoài ra còn có khoảng 600 câu ca dao.

      Tam Thanh Hiếu liêm Ngô Giáp Đậu biên tập năm Duy Tân 2 (1908).                  : 500

911. ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TIỀN BIÊN. A.2/1-7

     Ngô Thời sĩ biên soạn. Khắc in năm Cảnh Thịnh 8 (1800).                              : 525

953. ĐẶNG PHẠM TỘC GIA PHẢ. A. 3043

     Gia phả 10 đời của họ Đặng Phạm ở l. Từ Liêm. Họ này trước là họ Phạm, đến đời thứ 3, An Trung đổi thành Đặng.                       : 550

1011. ĐIỆN THỪA LIÊN KHÊ CÔNG NIÊN PHẢ.                        A. 1005

     Tiểu sử của Nguyễn Liên Khê: tổ tiên nguyên họ Lê, đến đời Nguyễn Hữu Đăng đổi thành họ Nguyễn, ở Phường Phúc Bồ, ph. Phụng Thiên. Liên Khê từng đỗ Điện thí, làm Cổ Pháp  điện Tự thừa.                         : 575

1114. ĐÔNG ĐỒ XÃ NGÔ GIA PHẢ KÍ.

A. 1487

     Gia phả  6 đời của họ Ngô ở x. Đông Đồ, h. Đông Anh. Họ này vốn ở th. Xuân, x. Đồng Bàng, h. Yên Định, ph Thiệu Thiên, xứ Thanh Hóa, có Ngô Tây, Ngô Kinh, Ngô Từ là công thần triều Lê.                                     : 626

1128. ĐÔNG NGẠC NGUYỄN TỘC THẾ PHẢ.                        A. 1434,  A. 652

     Gia phả họ Nguyễn ở x. Đông Ngạc, h. Từ Liêm: thủy tổ là Đào Quý Công hiệu Thủ Phận, TS triều Lê, quán x. Phù Đỗng, h. Tiên Du, trấn Kinh Bắc, con thứ của Phò mã Đào Tướng công, vì gia biến, chuyển tới l. Nguyệt Áng, h. Thanh Trì, đến đời Phú Khiên, chuyển về Đông Ngạc, đổi thành họ Nguyễn.

Bài tự làm năm Kiến Phúc thứ nhất (1884): 633

1324. HÀN CÁC ANH HOA=NGÔ GIA VĂN PHÁI HI DOÃN CÔNG TẬP.    A. 2170

     20 bài khải, chiếu, biểu của Ngô Thì Nhậm soạn vào cuối Lê và thời Tây Sơn.          : 746

1328. HÀN CÁC VĂN THỂ TRÌNH THỨC.

 A. 281

     Những bài văn trúng cách trong các khoa thi Hội đời Lê. Mỗi bài đều có ghi tên người soạn, như Phạm Khiêm ích, Vũ Công Trấn, Nguyễn Công Thái, Hà Tông Huân, Ngô Bật Lượng, Hoàng Nghĩa Phú, Bùi Cầu, Đào Nghiễm.: 749

1369. HIỆN KIM BẮC KÌ CHI ĐỊA DƯ SỬ.

A. 398

     Lịch sử Bắc Kì và địa dư 2 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng), 2 đạo (Hà Dương, Lai Châu) và 25 tỉnh thuộc Bắc Kì.

     Giáo thụ phủ Hoài Đức  Ngô Giáp Đậu biên soạn.                                            : 773

1431. HOAN CHÂU PHONG THỔ KÍ

       VHv. 1719               VH v. 1458  

     Địa lí Nghệ An, do Đốc Đồng Nghệ An là Trần Danh Lâm soạn.

     Bản VHv. 1719 còn có  Đông Thành phong thổ kí của Ngô Trí Hiệp soạn.            : 810

1432. HOAN CHÂU PHONG THỔ THOẠI

     VHv. 1376

     Trong đó có Nghệ An phong thổ kí  do Bùi Dương Lịch soạn. Có 42 bài thơ vịnh  phong cảnh Nghệ An cử Ngô Thời Phùng, Lê Hồng Phổ, Trần Thức Cốc, Đỗ Phúc Ngũ,        : 812

1439. HOÀNG CÁC DI VĂN.   A. 2137

     Văn kiện nhà nước thuộc 3 triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị.

     Ngô Thế Vinh biên tập và viết tựa  năm Thiệu Trị 7 (1847).                              : 818

1441. HOÀNG CHIÊM ĐỊA LÝ CẢO. A. 458

     126 hình vẽ các kiểu đất quý của các địa phương trong nước.

     Hoàng Chiêm tức Nguyễn Đức Huyền, hiệu Phú Hưng, người l. Tả Ao, h. Nghi Xuân : 821

1447. HOÀNG HOA ĐỒ PHẢ.   A. 2871

     115 bài thơ của Ngô Thì Nhậm làm trong dịp đi sứ TQ năm Quý Sửu (1793) để báo tang Quang Trung và cầu phong cho Quang Toản   

                                                :824

1492. HOÀNG VIỆT LONG HƯNG CHÍ. A.23

     Tiểu thuyết lịch sử 34 hồi, nói về quá trình xây dựng cơ  nghiệp của  nhà Nguyễn, kể từ Nguyễn Kim phò Lê chống Mạc cho đến khi Gia Long đánh Tây sơn, bắt đượcc Quang Toản, lập nên triều Nguyễn.                   :  851

1501. HOÀNG VIỆT THÁI PHÓ LƯU QUÂN MỘ CHÍ.          A. 1027

     Soạn năm Thiên Thuận 3 (1130).

     Mộ chí của hai anh em Lưu Khánh Đàm và Lưu Khánh Ba, người th. Yên Lãng, quận Cử Chân, đều kês nhan làm chức Thái phó triều Lí, khi mất được phong làm Thành hoàng.

     Bài văn bia do Ngô Thế Vinh soạn năm Tự Đức 8 (1955).                                 :    856

1512. HOẠT NHÂN BỊ YẾU.     A. 2798

     Phú, Luận, ca nói về  phép chẩn mạch, xét khí sắc con người, tính chất và cách thức dùng một số thuốc Nam, Bắc..             : 862

1561. HÙNG TRIỀU NGÔ TƯỚNG CÔNG SỰ TÍCH VĂN.        AB. 359

      Bài văn chầu kể sự tích Ngô Long, con một thầy lang người TQ đời Tần, lánh nạn sang l. Thanh Qua, h. Thanh Oai, có tài văn võ, giúp vua Hùng thứ 18 dẹp giặc, được phong tặng Thượng Trụ Quốc Công.                        : 893

1591. HƯƠNG MẶC XÃ NGÔ TỘC GIA PHẢ.                          A. 675

     Gia phả  do cháu nhĩ tôn Nguyễn Trọng Quýnh, tự Đạo Hiên biên tập năm Mậu Ngọ 

                                                            : 909 

               HẾT TẬP MỘT

 

1622. KHẢI ĐỊNH NGỰ GIÁ NHƯ TÂY THI TẬP           VHb. 2

      Có nói tới con cháu Nguyễn Văn Chấn (Dayot), Nguyễn Văn Thắng (Vannier), Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine)       : 5

1624. KHẢI TIẾN THI BIÊN A.1226

     Ngô Đôn biên tập, Nguyễn An Chi duyệt bình. 112 tr.                                   : 7

1645. KHẢO XÍCH ĐẠC BỘ PHÁP

VHv  2556

     Ngô Thế Vinh biên tập, chép lại năm Hàm Nghi 1 (1885). Khảo cứu cách đo đạc bằng thước và bằng bộ (bước chân) từ thời Hoàng Đế, Hạ, Thương, Chu đến Hán, Đường, Tống                         : 18

1679. KHỔNG LỘ, GIÁC HẢI NHỊ THÁNH TỔ SƯ                A. 2961

     Sự tích hai vị thánh tổ Khổng Lộ và Giác Hải: Khổng Lộ tức Nguyễn Chí Thành người l. Đàm Xá, h. Gia Viễn, t. Ninh Bình.

     Giác Hải tức Nguuyễn Quốc Y người, h. Hải Thanh, h. Giao Thủy, t. Nam Định . Hai người cùng sang Tây Trúc học đạo và kết bạn với Từ Đạo Hạnh. Về nước, Khổng Lộ chữa khỏi bệnh cho Lý Thần tông, được phong là Quốc sư, Giác Hải trừ được Mộc Tinh, được ban họ vua.                    : 35

1684. KHÚC GIANG NGÔ DƯƠNG ĐÌNH VĂN TẬP    A. 803

1691. KHƯƠNG CÔNG PHỤ SỰ TRẠNG KHẢO               A. 2912       MF. 1549

     Khương Công Phụ, tự Văn Khâm, người phường Cổ Hiểm, h. Cửu Chân, châu Ái, đỗ TN đời Đường, làm Tể tướng đời Đường Đức Tông, sau bị truất làm Biệt giá ở Tuyền Châu, đến đời Thuận Tông lại được bổ làm Thứ sử ở Cát Châu và bị bệnh chết ở Tuân Hóa thuộc Khâm Châu. Tại đó hiện có đền thờ ông.               : 42

1706. KIẾN SƠN SÀO THI VĂN TẬP

VHv 258/ 1-3

     Huyền Đồng Tử (Ngô Quý Đồng) soạn năm Tự Đức 4 (1851) gồm khoảng 750 bài thơ, 40 bài văn.   Có bài kí nói  về nước Việt Nam muốn đuổi kịp các nước văn minh thì phải bỏ lối học khoa cử cũ, mà phải học khoa học, học thực tế                                                       : 49

1708. KIẾN VĂN LỤC VH 1155 MF. 2411

     Vũ Trinh (1739-1828) hiệu Nguyên Hanh biên tập, trong đó có một số thần thoại hoặc truyền thuyết: Hồn Trương Ba da hàng thịt..

     Phần cuối có Tây Sơn thực lục tóm tắt triều Tây Sơn.                                        : 51

1716. KIỂU ĐẠI VƯƠNG THƯỢNG ĐẲNG THẦN KÝ LỤC                   A. 2625

     Ngô Thế Vinh biên tập, Ngô Đình Thái chép sự tích Kiều Công Hãn, quê Phong Châu làm Đề sát giám quốc sự thời Ngô, sau chiếm giữ Thai Châu, Hào Châu và Phong Châu, xưng là Kiểu Tam Chế, một trong số 12 sứ quân. Sau khi mất, được dân làng lập đền thờ.       : 55

1737. KIM NGỌC QUYỂN  AB. 152 MF.1830

     La Khê tiên sinh soạn (có lẽ là người họ Ngô), Thạch Viên chủ nhân  chú giải về hơn 400 bài thuốc chữa bệnh người lớn và trẻ em.

1740. KIM SƠN GIA PHẢ          A. 943

     Nguyễn Mậu Tài biên soạn năm Chính Hòa 1691. Gia phả họ Nguyễn, trước là họ Lê ở l. Kim Sơn, Gia Lâm, HN. Trong dòng họ có nhiều người đỗ đại khoa như: Nguyễn Mậu Tài (Ts. 1646), Nguyễn Mậu Di (Ts. 1659), Nguyễn Mậu Thịnh (Ts.1691), Nguyễn Duy Viên (Ts. 1694).                                                  : 68

1761. KINH BẮC NHƯ QUỲNH TRƯƠNG THỊ QUÝ THÍCH THẾ PHẢ.      A. 959

     Lê Quý Kiệt biên tập năm Cảnh Hưng 40 (1779). Gia phả họ Trương ở Như Quỳnh, ông tổ Trương Lôi tự Cự Khanh, gốc Thanh Hóa, có công giúp vua Lê, được phong Khai quốc công thần. Sau con cháu dời đến Như Quỳnh, h. Gia Lâm. Trong họ có Trương Bà, tên húy là Trong, từng là Thị nội cung tần, Thương Hòa Tôn Thái Phu Nhân (em trai bà là Quốc cậu, bị kiêu binh phá nhà và là bố vợ Đại tư đồ Hoành Quận công Ngô Phúc Phương).                         : 79

1796. LA KHÊ XÃ TÂY THÔN  KHOÁN ƯỚC.                                          A. 970

     Khoán ước của họ Ngô -La Khê về việc thờ thần, vào đám, ma chay, cưới xin và thể lệ tô thuế ruộng chùa, ruộng hậu...                  : 95

1803. LA TỔ TRUYỆN                 A. 2560

     Truyện La Thị người Tức Mặc, NĐ, đi lính thú sang Thiểm Tây, gửi vợ con ở nhà cho người bạn họ Lý, Khi trở về biết vợ  ngoại tình với bạn,  bèn bỏ đi tu, thành đạo, gọi là La Tổ. Sau người con cũng đi tu gọi là Tiểu La Tổ: 99      

1821. LAM SƠN VĨNH LĂNG DỤ LĂNG BI SAO.                     VHv.   1384/1-2   MF. 1647

     Bản sao hai bài văn bia: 1) Bài khằc ở bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn năm 1435, ghi niên hiệu, nguồn gốc, sự nghiệp của Lê Thái tổ (1385-1433). 2) Bài khắc ở bia Dụ Lăng do Nguyễn Nhân Thiếp và Phạm Thịnh soạn năm 1504, ghi niên hiệu, nguồn gốc, sự nghiệp của Lê Hiến tông (1498-1504).                      : 109

1827. LAN KHÊ NGUYỄN TỘC PHẢ

VHv.  1339/1-2.

     Gia phả họ Nguyễn ở l. Lan Khê, h. Nông Cống.Vốn họ Hà ở l. An Lãng, ph. Thiệu Hóa; đến đời Lê Thánh tông, hai anh em Hà Thọ, Hà Thiệu mộ dân tới Nông Cống khai hoang và lập thành l. Lan Khê. Sau Hà Thiệu (đời thứ 7) làm con nuôi họ Nguyễn ở l. Đức Trạch, đỗ TS đổi thành họ Nguyễn (nay đã trở lại họ Hà).   : 112

1848. LẬP TRAI PHẠM TIÊN SINH THI TẬP

     Phạm Lập Trai (Quý Thích) soạn, Ngô Duy Viên sơ duyệt, Bùi Tồn An biên tập.

A. 400                                                  : 122

1850. LẬP TRAI THI TẬP     VHv. 1462/1-2

     Trong tập này có Nghĩa Khê thi tập (trong VHv. 2244 từ tr.96-121) của Phạm Sĩ Ái, người xã Trung Lập, h. Đường Hào, t. Hải Dương.  :123        

1919. Đinh Nhạ Hành là cháu 6 đời Đinh Văn Tả, người l. Hàm Giang, h. Cẩm Giàng  : 160

1936. LÝ THỊ GIA PHẢ        A. 1075

      Lý Văn Phức biên tập năm Minh Mệnh 2 (1821). Gia phả họ Lý ở phường Hồ Khẩu, HN nguyên gốc ở l. Tây Hương, h. Long Khê, t. Phúc Kiến. Đến đời Lý Khắc Liêm, quan Tổng đốc tỉnh Vân Nam không chịu thần phục triều Mãn Thanh, trốn sang định cư ở phường Hồ Khẩu, truyền 6 đời đến Lý Văn Phức:       168 .           

1943. LỊCH ĐẠI DANH HIỀN PHẢ  A. 2245

     Tiểu sử, quê quán 178 người  đỗ đại khoa từ cuối Trần đến Lê Chiêu Thống.            : 171

1944. LỊCH ĐẠI DANH THẦN SỰ TRẠNG

     42 truyện danh thần và liệt nữ dưới triều Lê và Mạc, trong đó có Ngô Công Hoán (BN) và có nói gốc tích họ Ngô ở Hoàng Xá (tr. 112).

A. 264 MF. 337                                   : 172

1948. Phan Viễn Khanh tức Phan Huy Quýnh (1775-1844) là anh Phan Huy Chú.       : 174

1975. Phan Huy Sảng (1764-1811) là em Phan Huy Ôn (1755-1786).

1992. LIỆT THÁNH BẢO CÁO    A. 2403

     Văn giáng bút của Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, khuyên làm điều tốt, bỏ điều xấu: 197

1995... NGÃ QUỐC NHÂN NHẬP SĨ TQ

     Những người VN làm quan ở TQ: Lý Thân, Vương Trung, Đặng Nhượng, Lý Tiến, Lý Cầm, Nguyễn Gia, Khương Công Phụ, Triệu Thái, Nguyễn An, Dương Công Liên, Trương Ngạn Sán, Lê Dung, Trần Nho, Lê Nguyên Hồng, Lê Vinh Đình...

2048. LUẬN BIỆN TÁN TỤNG CA CHÂM VĂN TẬP.                           A. 1264

     Cao Huy Diệu, Hà Tông Huân, Lê Anh Tuấn biên tập gồm 28 bài luận, biện, tán... đề tài lấy trong sử sách TQ về các vấn đề đạo đức, chính trị, xã hội...                                            : 227

2056. LUẬN NGỮ THÍCH NGHĨA CA

A.186/ 1-2 VÀ VHv 709/3-6

     Tự Đức biên soạn, Hoàng Hữu Xứng, Ngô Huệ Liên duyệt, Hoàng Bỉnh, Nguyễn Hiệu kiểm hiệu. Diễn Nôm theo thể 6-8, 20 thiên sách Luận ngữ                                          : 230                                                  

2093. LƯƠNG GIA THẾ PHẢ VHb. 57, MF1764.

Gia phả họ Lương ở l. Bùi Xá (Tam Đồng) Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông tổ Lương Quý Hương, tự Phương Khê thụy Hoa Ngạc, hiệu La Tào. Do cháu 12 đời là Nhật Tỉnh biên tập năm Minh Mệnh 6 (1825).                                      : 248

2099. LƯƠNG XÁ ĐẶNG THỊ PHẢ

VHv. 1341/1-5

     Gia phả họ Đặng ở x. Mạc Xá (Lương Xá), h. Chương Đức, do Ngô Thì Nhậm viết tựa. Họ này là dòng dõi của Trần Hưng Đạo, đến đời Trần Văn Huy, đỗ TS triều Lê, lấy tên hiệu là Đặng Hiên. Từ đấy về sau con cháu đều đổi sang họ Đặng như Đặng Dư, Đặng Toản, Đặng Khuê. Trong họ có nhiều người hiển đạt như: Đặng Huấn, Đặng Tiến Vinh, Đặng Thế Tài, Đặng Tiến Thự... sau có Đặng Trần Thường theo Gia Long chống Tây Sơn làm tới chức Binh bộ thuợng thư...                                 : 252

2128.  MAI DỊCH TRÂU DƯ VĂN TẬP

VHv. 1417 và A. 1280

     Ngô Thì Vị biên soạn: 93 bài thơ, 1 bài ca, 12 bài phú vịnh phong cảnh, cổ tích trên đường đi sứ TQ vào khoảng 1820-1821.       : 267

2139. MÃO CẦU TRẦN TỘC PHẢ      A. 680

     Gia phả họ Trần từ đời thứ 5 đến đời thứ 15 ở x. Trần Xá, h. Nam Xang, Hà Nam. Họ này vốn ở x. Tức Mặc, h. Mỹ Lộc, Nam Định, sau

 chạy loạn đến Trần Xá                  : 272

2183. MỘ TRẠCH LÊ THỊ PHẢ A.658

     Gia phả họ Lê ở l. Mộ Trạch, h. Bình Giang, t. Hải Dương: thủy tổ là Lê Nhữ Huy, quê ở Lão Lạt, h. Thuần Lộc, Châu Ái, sau chuyển ra quê vợ l. Mộ Trạch. Con trai Nhữ Huy là Lê Cảnh Tuân sinh ra Lê Thúc Hiên và Lê Quý Đỉnh đều có công giúp Lê Thái tổ dẹp giặc Minh, từ đó hiển đạt đến 35 đời.                                 : 294

2191. A. 1102 có tiểu sử công thần triều Nguyễn:  Ngô Đức Tuấn...                      : 298

2243. NAM HÀNH THI KÍ       A. 1946.

     Giải nguyên Ngô Tùng Hiên soạn: gồm 35  bài thơ vịnh cảnh... trên đường  từ Hà Nội vào Huế năm 1820.                                         : 327

2252. NAM PHONG GIẢI TRÀO AB. 348, AB. 232.

     Ca dao tục ngữ VN dịch từ Nôm ra Hán.

Trần Liễu Am và Ngô Hạo biên tập, Trần Doãn Giác đề bạt.                                             : 331    

2305. NAM XANG LIỆT NỮ TRUYỆN.

AB. 125

     Truyện Võ Thị Thiết vf chồng là Trương Sinh ở h. Nam Xang. Trương Sinh đi lính. Ở nhà, tối đến trước ánh đèn, Thieets thường chỉ bóng mình  dỗ con: “Cha mày đấy”. Do vậy, khi Sinh về, con không nhận cha, nói: “Cha tôi đến tối mới về”. Bị chồng ngờ là ngoại tình, Thiết nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử.

     Mai Đình Nguyễn Hòa Hương soạn.   : 359

2330. NGHĨA KHÊ THI TẬP VHv. 2345

     Có tập thơ của Phạm Sĩ Ái gồm:thơ tiễn, tặng viếng bạn, đề vịnh...

2337. NGOẠI LÃNG DOÃN TƯỚNG CÔNG PHẢ KÝ          VHv. 1747

     Hành trạng và sự nghiệp của Doãn Uẩn, người l. Ngoại Lãng, h. Thư Trì, t. Thái Bình. Ông nhà nghèo, 34 tuổi đỗ CN, làm án sát tỉnh Định Tường, có công dẹp loạn Lê Văn Khôi, được phong An Tây mưu lược tướng.       : 374

2343. NGỌC ĐỒNG HƯƠNG ƯỚC A. 324

     Hương ước của l. Ngọc Đồng, h. Kim Động, t. Hưng Yên, do Trần Đình Nguyên, Nguyễn Tín Thi, Ngô Văn Đạo biên tập năm 1913 : 380

2345. NGỌC HOA CỔ TÍCH TRUYỆN AB 60

     Truyện thơ Nôm kể lại mối tình chung thủy giữa Phạm Tải và Ngọc Hoa: Ngọc Hoa là con gái một nhà giàu họ Trần. Nàng thông minh lại có nhan sắc, mới 13 tuổi đã có nhiều nơi quyền qúi đến cầu hôn, nhưng nàng đều không ưng. Một hôm Phạm Tải, một học trò nghèo đến nhà nàng xin ăn. Thấy chàng có tài, có đức, nàng đem lòng yêu dấu và sau đó lấy làm chồng. Biện Điền vì không cưới được Ngọc Hoa, đã tạc tượng nàng dâng cho Trang Vương. Ngọc Hoa bị bắt vào triều. Trang Vương tìm mọi cách mà vẫn không chinh phục nổi trái tim của nàng, bèn chuyển sang giết Phạm Tải. Ngọc Hoa tức giận tự rạch mặt mình cho xấu đi, nhưng Trang Vương vẫn một mực đeo đẳng. Nàng thấy vậy, đành vờ chấp thuận, hẹn ba năm sau mãn tang chồng sẽ lấy hắn. Đến ngày mãn tang, nàng tự vẫn để giữ lòng chung thủy với chồng. Dưới âm phủ, Phạm Tải cùng Ngọc Hoa làm đơn kiện lên Diêm Vương, tố cáo tội ác của Trang Vương. Kết quả Trang Vương bị ném vạc dầu, Phạm Tải và Ngọc Hoa đều được trở về dương thế và chàng đã trị vì đất nước thay Trang Vương.   

                                                    : 382

2347. NGỌC KIỀU LÊ TÂN TRUYỆN

VN.b 76

     Truyện thơ Nôm 6-8, kể lại mối tình chung thủy giữa Tô Hữu Bạch và Hồng Ngọc. Hồng Ngọc là cô gái vừa có nhan sắc, vừa giỏi văn thơ. Quan Ngự sử Dương Đình Chiếu dạm hỏi nàng cho con trai mình, nhưng bị khước từ, đã tiến cử Bạch Thái Huyền là cha của Hồng Ngọc đi sứ đất giặc. Bạch công phải gửi Hồng Ngọc cho bạn là Ngô Khuê. Vẫn bị Dương Đình chiếu tìm cách ép duyên. Ngô Khuê phải đưa gia quyến cùng Hồng Ngọc về quê trốn tránh. Thời gian ở gửi nhà họ Ngô, Hồng Ngọc đổi tên là Vô Kiều, phỏng theo tên người con gái xấu xí họ Ngô là Vô Diễm. Một lần đi thăm chùa, gặp nho sinh Tô Hữu Bạch, vừa đẹp trai vừa giỏi thơ văn, Ngô Khuê muốn gả Hồng Ngọc cho Tô. Nhưng khi đến xem mặt, chàng Tô lại gặp con gái Ngô Khuê xấu xí. Chàng từ chối.

     Trên đường đi Tràng An, Tô gặp Yên Tố, người hầu gái của Hồng Ngọc. Nhờ Yên Tố giúp đỡ, Tô và Hồng Ngọc đã cùng nhau hẹn ước kết duyên. Một buổi ngao du, Tô gặp Lư Mộng Lê đang cải trang nam giới, hai người rất ý hợp tâm đầu. Mộng Lê hứa gả “em gái” cho Tô. Sau đó Tô thi đỗ TS, bị Dương Tuần Phủ ép gả  em gái cho, chàng phải đổi tên là Liễu Tú tài để trốn, gặp Bạch công lúc này đổi tên là Hoàng Phủ đang đi tìm mình. Thấy Liễu tài hoa, lại thấy việc tìm Tô là mong manh, Bạch công nảy ý gả Hồng Ngọc và cháu là Lư Mộng Lê cho Liễu. Liễu từ chối. Giữa lúc Hồng Ngọc và Mộng Lê đang đau khổ vì ý định của Bạch công thì Ngô Khuê đến. Một cuộc tranh cãi quyết liệt giữa Bạch công và Ngô Khuê: Một bên ca ngợi chàng Tô, một bên ca ngợi chàng Liễu. Đúng lúc ấy quan Hàn lâm Tô Hữu Bạch xuất hiện trong vai Tú tài Liễu. Thế là mọi việc đã sáng tỏ. Mọi người vui vẻ làm lễ cưới cho Tô Hữu Bạch với cả ba cô gái: Hồng Ngọc (tức Vô Kiều), Mộng Lê và Yên Tố. : 382

2351. NGỌC THAN XÃ NGUYỄN THỊ TỐN CHÚC TỪ               VHv. 2644

     Di chúc của Nguyễn Thị Tốn ở x. Ngọc Than để lại cho 2 con trai là Đỗ Lai Thi và Đỗ Lai Tuyên, do Đỗ Lai Triết soạn năm 1862: 385

2357. NGÔ CÔNG HUẤN TỬ VĂN. A. 2219

     Bài thơ dài, mỗi câu 5 chữ của Ngô Duy Viên, khuyên con gái chăm học, sửa mình, giữ nết thảo hiền, không ham danh lợi...         : 387

2368. NGÔ TỘC  TRUY VIỄN ĐÀN PHẢ A.647

     Trần Danh Án, Phạm Giáp Thiên (Giao Khê bá), Vũ Huy Tấn (Dinh Trạch hầu) viết tựa và tán; Vũ Trinh (Lan Trì bá) viết bài thuyết; Nguyễn Cần Mưu (Vị Khê bá) viết đề dẫn; Lê Lương Thận hiệu Hi Triết viết bạt vào các năm 1791, 1792.                                        : 397

2369. NGÔ VĂN LỘC NGHIÊM ĐƯỜNG THI TẬP.         VHv. 2463

     Thơ văn của thân sinh Ngô Văn Lộc.     : 398

2405. NGUYỄN ĐÌNH TỘC GIA PHẢ THẾ HỆ TẬP  VHv. 2428

     Cháu 16 đời là Nguyễn Đình Hội biên soạn năm 1929, Trần Văn Phùng sao lại năm 1962.

Gia phả họ Nguyễn Đình: thủy tổ Nguyễn Nhữ Soạn  (con Nguyễn Phi Khanh, em Nguyễn Trãi), quê l. Nhị Khê, h. Thượng Phúc, sau nhập tịch quê ngoại ở x. Cừ Nội, Thanh Hóa, mộ dân khai hoang lập ra ấp Mê Thôn. Nguyễn Nhữ Soạn cùng Nguyễn Trãi theo giúp Lê Lợi, được phong Tuy Quận công.

2424. NGUYỄN THỊ GIA PHẢ (ĐÔNG ĐỒ)

A. 798

     Gia phả họ Nguyễn, thủy tổ là Hải Phong ở x. Đông Đồ, h. Đông Anh. Họ này là tông thất nhà Mạc, sống ở Hải Dương, sau đổi thành họ Nguyễn, di cư đến x. Tào Mai, h. Kim Hoa. Đến đời Phúc Hiền, dời đến x. An Hòa, h. Yên Lãng, cuối cùng dời đến Đông Đồ.

     Phả do Nguyễn Huy soạn, Ngô Đức Phủ viết tựa năm 1873.                              : 428

2428. NGUYỄN THỊ TÂY SƠN KÍ   A. 3138

     Có bài kí về lịch sử thành Đồ Bàn (tr. 92-99)

                                                      : 430.

2430. NGUYỄN THỊ THẾ PHẢ THỰC LỤC

A. 2258

     Gia phả họ Nguyễn từ năm Cảnh Trị 4 (1666) đến năm Thành Thái 9 (1897). Họ này trước là họ Đào, ở x. Phù Đỗng, h. Tiên Du, sau di cư đến Đông Ngạc, Từ Liêm và đổi thành họ Nguyễn là họ ngoại.                                 : 431

2448. NGUYỄN TỘC THẾ PHẢ (HƯƠNG KHÊ)          VHv.  1753

     Hành trạng Nguyễn Hễ, hiệu Thanh Khê, người x. Hương Khê (trước là Lan Khê), h. Tĩnh Gia, Thanh hóa. Nguyễn Hễ vốn họ Hà (Hà Hiệu), nguyên quán x. Vĩnh Khê, Nông Cống, làm con nuôi họ Nguyễn, đỗ TS giúp Lê Chiêu Thống và Gia Long chống Tây Sơn.          : 441   

2469. NGƯ PHONG TƯỚNG CÔNG TRUYỆN KÍ.                                VHv. 2072

     Tiểu sử, sự nghiệp Nguyễn Quang Bích, người th. Nhất, x. Trình Phố, tg. An Bồi, h. Trực Định, ph. Kiến Xương, đỗ TS năm 1869. Bài tưạ do tác giả viết năm Hàm Nghi thứ nhất (1885), Ngô Đức Dung, hiệu Tùng Lĩnh chép tặng Long Điền tiên sinh năm 1946.                         : 452   

2476. NGỰ CHẾ NGỌC PHẢ KÍ.      VNv. 241

     Gia phả nhà Lê, thủy tổ là Lê Hối, quán l. Như Áng, h. Lương Sơn, t. Thanh Hóa. Lê Lợi là đời thứ 4, khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh, lên làm vua xưng là Thái Cao Hoàng Đế, truyền đến Lê Xuân (Cung Đế), bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi. Sau Lê Ninh (Trang tông) diệt nhà Mạc, khôi phục cơ nghiệp nhà Lê, truyền đến Chiêu Thống là đời chót. Gia phả các chi.

     Nguyễn Hài và một số đình thần triều Lê biên tập năm Cảnh Hưng 41 (1780), Đặng Xuân Khanh chép lại năm 1962.                        : 456               

2510. NHÂN ÁI THẦN TỪ LỤC    A. 710

     Sự tích thần Đỗ Kính Tu, thờ ở đền th. Nhân Ái, x. Vân Canh, h. Từ Liêm, thần là người bản thôn, làm quan triều Lí, bị vu oan là phản nghịch nên tự tử.                                     : 473

2523. NHÂN THẾ TU TRI

     Có 6 bản in, do Cao Xuân Dục biên tập, Ngô Huệ Liên và Trần Sĩ Trác kiểm hiệu. Lê Đình Luyện, Nguyễn Thiện Hành hiệu chỉnh. Quốc sử quán in 1902.                                       : 478

1548. NHỊ ĐỘ MAI DIỄN CA. VNb. 28.

     Diễn Nôm thể 6-8 truyện Nhị Độ Mai: Mai công cha Mai Lương Ngọc bị gian thần Lư Kỉ

vu oan giết hại. Lương Ngọc phải chạy trốn. Trần Hạnh Nguyên, vợ chưa cưới của Lương Ngọc cũng bị gian thần lập kế đưa đi cống Hồ. Hạnh Nguyên nhảy xuống sông tự tử, được Chiêu Quân hiển linh cứu sống. Lương Ngọc thay tên đổi họ đi thi, đỗ TN rửa được oan cho cha và cùng Hạnh Nguyên sum họp.         : 493

2552 NHỊ KHÊ NGUYỄN THỊ GIA PHẢ A.944

     Gia phả họ Nguyễn ở Nhị Khê. Ông tổ thứ nhất là Phi Phượng, hiệu Phúc Chính, nguyên quán sở x. Chi Ngại, h. Phượng Sơn (Phượng Nhỡn). Cháu 5 đời là Nguyễn Phi Khanh: 496                                                      

2598.  ÔN DỊCH                               VHv. 2087 

     Ngô Hữu Tính và Trệ Giang Di Trai, Trinh Mông Dưỡng Phủ biên tập.             : 519

2604. PHẠM CÔNG TÂN TRUYỆN  AB. 14

     Phạm Công nhà nghèo, mồ côi cha từ nhỏ, dắt mẹ đi ăn xin. Cúc Hoa con gái quan phủ đem lòng yêu, hai người lấy nhau. Phạm Công sau thi đỗ Trạng nguyên, vua định gả công chúa cho, nhưng chàng từ chối vì đã có vợ. Vua giận bắt giam. Khi được thả về, Phạm Công cùng vợ sum họp được ít lâu thì Cúc Hoa mất để lại 2  con  nhỏ. Phạm Công rất thương xót. Giặc gĩa nổi lên, vua sai Phạm Công đi đánh dẹp, chàng mang hài cốt vợ và dắt 2 con cùng ra trận. Tướng giặc động lòng lui quân. Sau Phạm Công lấy Tào Thị làm vợ kế. Tào Thị là người lẳng lơ độc ác, rất tệ bạc với con chồng, khiến chàng càng thương nhớ Cúc Hoa và đã xin từ chức, xuống âm phủ tìm người vợ trước. Trải qua bao gian nan thử thách, cuối cùng vợ chồng con cái được sum vầy.                                      : 523    

2619. PHẠM TỘC GIA PHẢ (KÍNH CHỦ)

A. 2420

     Gia phả họ Phạm ở l. Kính Chủ (năm Minh Mạng 10 đổi thành x. Dương Nham), h. Hiệp Sơn, ph. Kinh Môn, Hải Dương. Họ này vốn họ Chúc ở t. Quảng Đông, TQ, đến đời Chúc Đức Công di cư sang VN, đến đời Trần Nhân tông đổi thành họ Phạm. Những người hiển đạt: Phạm Sư Mạnh, Phạm Gia Mô, Phạm Tiến.: 531

 

2642. TRUYỆN PHAN TRẦN    AB. 37

     Soạn theo thể 6-8: Vào thời Tỉnh Khang nhà Tống (1126), có 2 người bạn thân, một họ Phan, một họ Trần. Vợ 2 người đều đang có mang. Họ Phan và họ Trần hẹn trước với nhau, nếu một bên sinh con trai, một bên sinh con gái, thì sẽ gả con cho nhau.

     Sau họ Phan sinh con trai là Tất Chánh, họ Trần sinh con gái là Kiều Liên.

     Được cha mẹ dạy dỗ chu đáo, Tất Chánh học hành chăm chỉ, thi Hương đỗ Thủ khoa, nhưng vào thi Hội bị hỏng. Xấu hổ, chàng không trở về nhà nữa, ở lại kinh đô tìm nơi trọ học, quyết chờ khoa sau. Cùng thời gian này, cha Kiều Liên mất, quê nhà lại có giặc, hai mẹ con Kiều Liên chạy nạn, thất lạc nhau. Kiều Liên đến tu ở chùa Kim Lăng, nơi bà cô của Tất Chánh trụ trì. Một hôm Tất Chánh đến thăm cô, gặp Kiều Liên, chàng phải lòng và mắc bệnh tương tư. Nể lời sư cô, Kiều Liên tới thăm Tất Chánh. Qua câu chuyện họ nhận ra rằng, chính họ có duyên đính ước từ xưa. Từ đấy họ nhiều lần bí mật đến với nhau.

     Trở lại kinh thi Hội, Tất Chánh đỗ TH. Chàng xin sư cô cho cưới Kiều Liên, hai vợ chồng cùng nhau về quê Tất Chánh. Tới nhà, Kiều Liên bất ngờ gặp lại mẹ. Thế là hai họ Phan Trần sum họp hạnh phúc.               : 544

2691. PHÙ DUNG TÂN TRUYỆN   AB. 68

     Truyện thơ Nôm về bức tranh Phù Dung, thể 6-8: Thời vua Nguyên Thuận Đế, có Thôi Tuấn Thần, con nhà gia thế, học giỏi, mà viết chữ và vẽ tranh cũng rất đẹp. Vợ là Vương Thị có nhan sắc và có tài văn thơ. Hai vợ chồng Tuấn Thần rất thích bức tranh Phù Dung do chính tay Tuấn Thần vẽ. Do được ẩm bổ, Tuấn Thần cùng vợ thuê thuyền đi nhận chức Huyện úy ở châu Vĩnh Gia. Dọc đường bị chủ thuyền là A Tú, thấy vợ chồng Tuấn Thần giàu có, đã tìm cách hãm hại. Tuấn Thần phải nhảy xuống sông, còn vợ bị ép nài lấy con trai hắn. Sau Vương Thị tìm cách trốn được lên bờ, vào tu ở một ngôi chùa, lấy pháp danh là Tuệ Viên. Một hôm có khách đến lễ và tặng chùa bức tranh Phù Dung. Tuệ Viên nhận ra đó là thủ bút của Tuấn Thần khi trước. Rồi nhân xúc động, nàng đề luôn vào bức tranh một bài thơ tứ tuyệt nói lên hi vọng được giải oan cho chồng. Sau đó Cao Nạp Lễ là viên quan Ngự sử nghỉ hưu đến chơi chùa, thấy tranh đẹp thơ hay đã mua về nhà treo chơi. Về phía Tuấn Thần, sau khi thoát khỏi tay A Tú, chàng đã phải đi viết thuê, vẽ mướn để kiếm sống và cuối cùng vào làm gia sư cho Cao Nạp Lễ. Nhìn thấy bức tranh cũ của mình, lại nhận ra bài thơ và thủ bút của vợ mình trên bức tranh, Tuấn Thần kêu xin quan Ngự sử tra xét cho vụ án. Nhờ đó nỗi oan của Tuấn Thần được giải, bọn A Tú bị xử tử. Vợ chồng Tuấn Thần đoàn tụ với nhau.                                                      : 567

2763. PHƯƠNG HOA TÂN TRUYỆN. AN. 86

     Truyện Nôm Phương Hoa thể 6-8: Phương Hoa là con gái quan Ngự sử Trần Diện, Cảnh Yên là con trai quan Thượng thư họ Trương. Gia thần Tào Trung Úy thấy Phương Hoa là người tài sắc bèn đến hỏi làm vợ. Bị từ chối, nên mạo chiếu chỉ nhà vua khép Trương công vào tội vong thần mại quốc, giết ông rồi cướp hết tài sản. Hai anh em Cảnh Tỉnh và Cảnh Yên đưa mẹ chạy về Thạch Thành lánh nạn. Một tháng sau, vợ Cảnh Tỉnh sinh Tiểu Thanh rồi lâm bệnh chết. Bảy năm sau tới kì đại khoa, mẹ con bà cháu họ Trương  trở về quê dò tin tức. Họ nghỉ ở Lôi Dương. Lúc này Phương Hoa vẫn một lòng chờ Cảnh Yên, tình cờ nàng gặp Tiểu Thanh rồi đưa về nhà làm con nuôi, nhờ đấy nàng biết được tình cảnh nhà họ Trương. Nàng đã tìm mọi cách giúp đỡ họ. Một hôm nàng hẹn Cảnh Yên vào lúc canh ba tới nhận quần áo tiền bạc ở góc vườn hoa. Không may bị tên gian Hồ Nghi biết chuyện, hắn đã lén tới chỗ hẹn, giết chết người hầu của Phương Hoa, cướp của. Cảnh Yên tới, vô tình dẫm phải người chết, máu vương khắp người. Chàng bị Trần Ngự sử bắt tống ngục. Quá đau xót, Trương phu nhân qua đời. Phương Hoa thay Cảnh Yên lo việc chôn cất chu đáo, xong xuôi nàng xin cha mẹ cho lên kinh bán hàng, kén chồng. Nhưng sau khi lên kinh, nàng đã ngày đêm ôn luyện văn chương và lấy tên là Cảnh Yên để đi thi. Kết quả nàng đỗ TS. Giữa triều đình, nàng bỏ hết mũ áo cân đai, tâu với vua nỗi oan của gia đình họ Trương và của Cảnh Yên. Tào Trung Úy bị tru di tam tộc. Hồ Nghi bị chém đầu. Cảnh Yên được xét đỗ TS đặc cách cùng Phương Hoa. Hai người chính thức lấy nhau và dẫn nhau về quê.   : 605

2776. QUAN ÂM CHÍNH VĂN TÂN TRUYỆN                  AB. 638

     Truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính, thể 6-8: Thị Kính con gái Mãng Ông, người nước Cao Ly, nhà nghèo, lấy chồng học trò là Sùng Thiện Sĩ. Một hôm học khuya, Thiện Sĩ ngủ thiếp đi bên bàn học. Ngồi may vá cạnh chồng, thấy chồng có chiếc râu mọc ngược, Thị Kính cho là điềm không hay. Sẵn dao trong tay, Thị Kính toan cắt bỏ chiếc râu đó đi. Bỗng Thiện Sĩ giật mình tỉnh dậy, cho là vợ định hại mình, bèn hô hoán lên, thế là Thị Kính bị gia đình nhà chồng đuổi ra khỏi nhà. Bị oan ức, Thị Kính cải trang thành con trai, đi tu ở chùa Văn Tự, pháp danh Kính Tâm. Trong vùng có Thị Màu, con gái một nhà giàu, tính lẳng lơ, lên chùa thấy chú tiểu Kính Tâm, Màu đem lòng say đắm. Trước sự thờ ơ của chú tiểu, Màu không nén được lòng ham muốn, bèn về nhà ăn nằm với người ở trai trong nhà và có mang. Bị hào lý trong làng tra hỏi, Màu đổ tội cho Kính Tâm, vì thế Kính Tâm bị sư cụ đuổi ra ra ở ngoài Tam quan. Ít lâu sau, Màu sinh con trai và đem vứt ra ngoài Tam quan cho Kính Tâm. Thương trẻ sơ sinh, Kính Tâm đã ngày này qua ngày khác đi xin sữa, xin cơn nuôi nấng đứa trẻ. Ba năm ròng như thế, phần vì vất vả, phần vì ưu phiền, oan ức, Kính Tâm đã kiệt sức và chết. Khi khâm liệm Kính Tâm, mọi người mới biết Kính Tâm là phụ nữ. Nỗi oan của nàng từ ấy được giải tỏ. Nàng siêu thăng thành Phật Quan Âm.      : 614

2928. SÁCH MẠNH HỌC BẬC CAO TRUNG HỌC GIÁO KHOA                        AB. 290

     Ngô Giáp Đậu, Đốc học Nam Định diễn Nôm năm 1913.                                       : 691

2973. SƠ KÍNH TÂN TRANG       A. 1390

     Truyện thơ Nôm gồm 1482 câu kể lại mối tình của Phạm Kim và Trương Quỳnh Thư: một người họ Phạm ở Từ Sơn, Kinh Bắc và một người họ Trương ở Kiến Xương, Sơn Nam quen thân nhau, hẹn gả con cho nhau, nếu một bên sinh trai, một bên sinh gái; lại trao gương vàng lược ngọc cho nhau để làm tin. Sau Phạm công sinh con trai, đặt tên là Phạm Kim. Gặp quốc biến, Phạm công tổ chức cần vương, nhưng thất bại. Phạm Kim định tiếp tục sự nghiệp của cha, cũng không thành, đành rong chơi đây đó cho khuây khỏa nỗi lòng. Ở Thú Hoa Dương, chàng gặp Quỳnh Thư, hai người yêu nhau say đắm. Nhưng rồi Quỳnh Thư bị ép gả cho một viên quan Đô đốc ở Kinh kì. Phạm Kim được tin này, đến ngay với người yêu, nhưng cả 2 đều thấy bế tắc. Trương Quỳnh Thư tự tử, còn Phạm Kim bỏ đi tu.

     Sau khi chết, Quỳnh Thư lại đầu thai  vào nhà họ Trương trở thành Thụy Châu. Nàng cải dạng làm trai, giao du rất rộng. Cuối cùng gặp Phạm Kim, họ nhận ra nhau  là có duyên gương lược từ xưa và được Trương công cho phép lấy nhau.                                                   : 712

2983. ĐẶNG MÔN THẾ PHẢ              A. 1063

     Gia phả họ Đặng ở l. An Trung, trấn Sơn Nam: thủy tổ là Nguyễn Gia Doanh, đến đời Nguyễn Đăng mới đổi theo họ ngoại là họ Đặng. Họ này có nhiều người đỗ đạt như Đình Tướng đỗ TS, Đình Trân đỗ CN.

     Do Lê Như Mai ghi năm Duy Tân (1915) : 716.

 

                             HẾT TẬP HAI

3061. TÁI SINH DUYÊN TRUYỆN   VNb .73

     Truyện thơ Nôm, kể lại mối tình giữa Hoàng Phủ Thiếu Hoa với Mạnh Lệ Quân: Thiếu Hoa đã đính hôn với Mạnh Lệ Quân. Lưu Khuê Bích là con trai một nịnh thần không lấy được Mạnh Lệ Quân đã tìm cách làm cho cha con Thiếu Hoa bị tù tội để ép duyên. Mạnh Lệ Quân phải bỏ trốn, giả trai,  lấy tên là Lịch Quân Ngọc, rồi thi đỗ Tam nguyên, được làm Tể tướng. Trong nước có giặc quấy nhiễu, quan Trạng tân khoa Hoàng Phủ Thiếu Hoa được cử đi chiêu an và đánh Cao Li. Chiến thắng trở về, Thiếu Hoa được phong Vương, vua ép chàng lấy Lưu Yến Ngọc. Chàng từ chối và có ý chờ Mạnh Lệ Quân. Thấy chàng thực bụng yêu mình, Mạnh Lệ Quân xin vua tha tội giả trai, và được phong là Quận chúa. Hai người sum họp cùng nhau.

     Chu Ngọc Chi dịch theo nguyên bản chữ Hán, in năm 1928.                                   :  7/III

3108. TẢN VIÊN SƠN NGỌC PHẢ A. 1547

     Đời Hùng Vương thứ 18 ở động Lăng Sương, xứ Sơn Tây có một người tên là Nguyễn Tuấn (sau đổi tên là Nguyễn Huệ, Nguyễn Chiêu). Sau khi cha mất, Tuấn cùng mẹ lên núi Tản Viên ở, gặp được Sơn thần cho cây gậy thần và được Thái tử ở long cung cho cuốn sách ước, nhờ vậy mà Tuấn cứu giúp được nhiều người, được dân chúng tôn là Sơn Tinh. Sơn Tinh về sau lấy Mị Nương, bị Thủy Tinh thù oán, dâng nước lên gây ra lụt lội, Sơn Tinh từng giúp Trưng Vương đánh bại Tô Định.      :32/III

3203. TÂN TẬP HOAN CHÂU THẠCH HÀ TRẢO NHA NGÔ THỊ TRUỀN GIA TẬP LỤC.             A. 3077

     Do Ngô Phúc Lâm biên tập năm Cảnh Hưng 7 (1746), Ngô Phúc Trường tục biên năm Minh Mệnh 18 (1837).                                      : 75/III

3204. TÂN TẬP NGHỆ AN THIÊN LỘC PHÙ LƯU TRƯỜNG NGUYỄN THỊ ĐẠI TÔNG TỔNG KÍ.                                A. 3161

      Gia phả họ Nguyễn ở Phù Lưu Trường, h. Thiên Lộc, từ Nguyễn Văn Giai đỗ Tam nguyên đời Lê Quang Hưng trở xuống. Nguyễn Đông Dương biên tập năm Đồng Khánh (1888)   : 76

3299. THÁI LẠC TRƯỜNG VĂN SÁCH

VHv. 461

     Những bài văn sách do Ngô Tiên Sinh ở Trường Thái Lạc soạn năm Tự Đức 12 (1859): 120.

3318. THANH BÌNH CA ĐIỆU  VHv. 2080

     Bài ca chữ Hán ca ngợi cuộc đời của Phạm Văn Nghị: ông quê l. Tam Đăng, ph. Nghĩa Hưng, đỗ HG dưới triều Nguyễn (1838). Khi Pháp sang xâm lược, Phạm Văn Nghị mộ quân chống lại, vì lực lượng mỏng, không ngăn được giặc, hai ba lần tự tử đều được cứu sống. Sau ông về sống ẩn dật tại hang núi Trường Yên, tự đặt hiệu là Liên Hoa Động Chủ.

     Do Ngô Mạnh Cầu soạn năm Tự Đức 27 (1874), Phạm Văn Nghị duyệt. : 128

3321. THANH CHƯƠNG HUYỆN CHÍ

VHv. 2557

     Đặng Công Luận chép vào năm 1963 theo bản chính. Ngô Ngọc Thiên hiệu đính.   : 130.

3369. THÁNH TÍCH THỰC LỤC  A. 1067

     Sự tích 4 vị thần: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện: nhà sư Khâu Đà La, người nước Thiên Trúc, một lần đi vân du, tới Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), Kinh thành của Sĩ Vương, nơi có nhiều người tu hành và sùng kính đạo Phật.

     Nhà sư được mời về ở nhà một người tu hành, trong nhà có cô gái  hằng ngày rất chăm chỉ và thành kính dâng hương hoa cúng Phật. Nhà sư bèn đặt tên cho cô là Man Nương. Khi từ biệt gia đình Man Nương để vào núi, nhà sư nói rằng: 3 năm sau vùng này sẽ có hạn lớn. Rồi nhà sư lấy chiếc gậy của mình cắm xuống một nơi trong vườn, bảo gia đình Man Nương đào một cái giếng ở chỗ đó để phòng hạn lớn. Được ít lâu, bỗng nhiên Man Nương có mang, qua 14 tháng sinh một bé gái. Gia đình Man Nương mang bé vào núi giao cho Khâu Đà La. Nhà sư đặt tên cho bé là Đà La Tử, rồi hỏi các cây cổ thụ, muốn nhờ cây nuôi giữ hộ. Có một cây tự tách thân ra làm đôi, đón nhận bé gái vào lòng, rồi khép kín lại. Đúng như lời sư nói, 3 năm sau dân thành Luy Lâu gặp hạn lớn, các nguồn nước đều khô cạn, phải đến xin nước giếng nhà Man Nương. Vua biết chuyện, bảo Man Nương kể hết đầu đuôi, rồi sai nàng vào núi tìm nhà sư giúp dân trong thành cứu hạn. Nghe Man Nương truyền đạt lệnh vua, nhà sư ngồi lặng gây lát, bỗng mây đen kéo tới mù mịt, mưa lớn trút xuống. Gió to nhổ bật gốc cây cổ thụ trong đó có đứa bé. Cây cổ thụ theo nguồn lũ lớn trôi về bên thành Luy Lâu. Thấy có tiếng nhạc và vừng sáng tỏa ra từ thân cây, Sĩ Vương sai cưa thân cây ra làm 4 đoạn, tạc thành 4 pho tượng để thờ. Các pho tượng này rất thiêng. Mỗi khi vua sai làm lễ cầu mưa thì lập tức mây đen kéo đến, mưa đổ xuống, lại có sấm và chớp. Vì vậy Sĩ Vương đặt tên cho 4 pho tượng là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện.

     Chép năm Thành Thái Đ. Dậu (1897) : 153

3382. THẨM GIA THẾ PHẢ  A. 758

     Gia phả họ Thẩm ở l. Thổ Linh, h. Gia Lâm: họ này vốn ở TQ, sang VN vào cuối thời Minh.

     Do Thẩm Đức Hoằng đề tưạ và bổ sung năm Minh Mệnh 13 (1832), sao lại năm 1840   : 162

3510. THIÊN HẠ BẢN ĐỒ TỔNG MỤC LỤC ĐẠI TOÀN.              A. 1362

     Tổng mục lục bản đồ VN thời Lê gồm 13 thừa tuyên, 53 phủ, 161 huyện, 9020 xã, 49 châu, 3 làng, 125 phường, 223 thôn, 529 trang, 390 động, 484 sách, 54 sở, 55 trại, 20 vạn, 16 nguyên và 3 tuần.                                     : 223

3537. TIÊN THIÊN KHẢO TRUYỆN  A. 3094

     Khảo về công chúa Liễu Hạnh: bà là con gái Lê Đức Chính và Trần Thị Phúc ở th. An Thái, x. Vân Cát, h. Vụ Bản, t. Nam Định, là một trong số 4 người bất tử (Liễu Hạnh, Tiên Dung, Chử Đồng Tử và Phù Đổng Thiên Vương) : 238

3575. THỊNH QUANG ĐỖ TỘC THẾ THỨ PHẢ KÍ.               A. 799

     Gia phả họ Đỗ ở l. Thịnh Quang, tg Hạ, h. Vĩnh Thuận, ph. Hoài Đức. Họ này vốn là họ Dương ở x. Lạc Đạo, trấn Kinh Bắc.

     Do Đỗ Hi biên tập, Đỗ Đức Liêm, Đỗ Đức Trụ hiệu đính năm Cảnh Hưng 3 (1742). Dương Lập soạn bài tựa năm 1889.                      : 255

3578. THỌ MAI GIA LỄ                VHb. 117...

     Do Hồ Gia Tân hiệu Thọ  Mai soạn. Có tất cả 21 bản in từ năm Tự Đức 4 (1851) cho đến Bảo Đại 14 (1939).                                 : 257

3634. THỦY SƠN HÀNH TẠP SAO   A. 1992

     122 bài thơ, 8 bài văn sáng tác trong dịp đi công cán ở Ninh Bình.

     Ngô Đôn soạn, Nguyễn An Chi phẩm bình. Chép năm Tự Đức 34 (1881).                  : 282

3644. THỤY PHƯƠNG THẦN TỪ  VHv. 2619

     Sự tích Lí Ông Trọng.

     Đỗ Huy Tăng sao lục, Ngô Ngọc Can kiểm duyệt                                                : 287

3802. TỐI LINH HOÀNG ĐẾ TÔN THẦN NGỌC PHẢ LỤC.                            A. 1033

     Thần sắc của x. Độc Bộ, ph. Nghĩa Hưng, t. Nam Định về Triệu Quang Phục: Triệu Quang Phục có nỏ thần, đánh được nhà Lương, xưng đế, tức là Triệu Việt Vương. Lí Phật Tử chống lại Triệu Việt Vương  không được, dùng mưu cho con là Nhã Lang cầu hôn với Cảo Nương (con gái Triệu Việt Vương) rồi ăn cắp nỏ thần và một lần nữa đem quân đánh Quang Phục. Quang Phục thua trận, chạy ra cử Đại Nha và chết ở đấy.

     Do Nguyễn Bính, Hàn lâm viện, Đông các đại học sĩ soạn. Xã Độc Bộ chép lại năm Tự Đức 17 (1864).                                    : 358

3817.TỐNG SỬ LUẬN.    VHv. 94

     Lược sử triều Tống (từ Tống Thái tổ đến Tống Thần tông)...

     Ngô Thế Vinh biên tập và viết bài chí.

3821. TỐNG TRÂN TÂN TRUYỆN  AB. 217

     Truyện Tống Trân-Cúc Hoa, thể 6-8: Tống Trân người h. Phù Hoa, t. Hưng Yên, nhà nghèo, có hiếu, được con gái phú ông đem lòng yêu và nuôi cho ăn học. Tống Trân đi thi đỗ TN, vua định gả công chúa cho, nhưng chàng từ chối, bị bắt đi sứ nước Tần 10 năm. Vua Tần lại ép gả công chúa cho chàng. Ở nhà phú ông ép gả Cúc Hoa cho Đình trưởng. Đúng ngày cưới, Tống Trân trở về được cùng Cúc Hoa đoàn tụ.

                                                            : 368

3879. TRÊ CÓC TRUYỆN.     VNb. 78

     Truyện thơ Nôm 6-8 kể lại vụ án Trê và Cóc: Cóc ra bờ ao đẻ rồi về. Trê thấy đàn nòng nọc giống mình liền đem về nuôi. Cóc ra thăm con, bị Trê quát mắng. Cóc về phát đơn kiện. Trê bị tống giam và tra khảo. Vợ Trê chạy vạy đưa lễ lên quan cho người về điều tra, thấy đàn con giống Trê, liền cho tạm giam Cóc lại. Vợ Cóc được Nhái Bén  khuyên cứ để nòng nọc cho Trê nuôi, đến khi đứt đuôi, chúng sẽ tìm về với bố mẹ chúng. Sự việc diễn ra đúng như lời Nhái Bén nói. Cóc dẫn đàn con lên quan kiện Trê. Bấy giờ quan mới vỡ lẽ. Cóc được kiện, còn Trê bị đày đi xa.                                               : 396

3904. TRÍCH DIỄM THI TẬP  VHv. 2573

     Hoàng Đức Lương  biên tập và đề tựa năm Hồng Đức  28 (1497), Ngô Ngọc Can hiệu đính

                                                          : 407

3910. TRINH THỬ TRUYỆN.             VNb. 79

     Truyện thơ Nôm thể 6-8: một con Chuột Trắng góa chồng, đi kiếm ăn đêm, nghe tiếng chó sủa, chạy vào hang một con Chuột Đực ẩn nấp. Chuột Đực gà gẫm và đem mồi giàu sang ra nhử, nhưng không lay chuyển được lòng kiên trinh của Chuột Trắng. Vừa ra đến cửa, Chột Trắng gặp Chuột Cái là vợ của Chuột Đực đang về hang. Máu ghen nổi lên, Chuột Cái đay nghiến chồng và đến nhà xỉ vả Chuột Trắng. Mèo ở đâu chợt đến, Chuột Trắng chạy thoát

 vào cong gạo, ccòn Chuột Cái sa xuống ao. May có Hồ Sinh đuổi mèo đi, vớt Chuột Cái lên, minh oan cho Chuột Trắng.               : 410

3929. TRÚC ĐƯỜNG CHU DỊCH TÙY BÚT.

A. 1153.

     Ngô Thế Vinh giới thiệu sách Chu Dịch theo lối vấn đáp.                                               : 418

3930. TRÚC ĐƯỜNG PHÚ TUYỂN. A. 128

     Những bài phú của trường Ngô Thế Vinh, đề tài lấy trong Kinh, Truyện và cổ sử của TQ.

     Ngô Thế Vinh soạn, Nguyễn Tuân Nhất biên tập năm Tự Đức Ất Hợi (1875). Có tất cả 15 bản in.                                                            : 418

3931. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN TẬP.VHv.143

     Ngô Thế Vinh soạn, gồm: trướng, đối, liễn, hạ, tấu, biểu, sớ, tụng.                            : 418

3932. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN TẬP TÙY BÚT. VHv. 2329.

     Thủ bút của Ngô Lập Chi (chắt nội Ngô Thế Vinh) chép lại 3 bài thơ của Ngô Thế Vinh từ Trúc Đường thị văn tập.                           : 419

3933. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN THẢO.

VHv. 2352               VHv. 2351

     Văn thơ Ngô Thế Vinh gồm nhiều thể loại, cùng một số tác phẩm của học trò.           : 419

3935. TRÚC ĐƯỜNG TIÊN SINH THI TẬP PHỤ TẠP LIÊN TRƯỚNG.   A. 1641

     Thơ Ngô Thế Vinh: đề tài lấy từ các câu thơ hoặc văn trong sách cổ TQ.                    : 420

3936. TRÚC ĐƯỜNG TRƯỜNG VĂN SÁCH.

VHv 303

     Hơn 130 bài văn sách của học trò trường Ngô Thế Vinh : đề taif lấy từ Kinh, Truyện hoặc cổ sử TQ.

     Hà Nguyên Thung sao chép.                : 420

3937. TRÚC ĐƯỜNG TÙY BÚT.  VHv. 150

     Những đoạn do Ngô Thế Vinh chép từ các sách cổ TQ: Sơn hải kinh, Thượng thư, Hoài Nam Tử, Lễ Kí, Mạnh Tử, Trang Tử, Lã Thị Xuân Thu...  Sau mỗi đoạn chép thường có lời diễn giảng, bình luận, chú thích.              : 421

3940. TRÚC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH. A. 460,   A. 2181

     Những tư tưởng chủ yếu của phái Trúc Lâm. Một số bài kệ. Tiểu sử của ba vị tổ phái Thiền Tông Trúc Lâm: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang.

     Ngô Thì Nhậm soạn. Phan Huy Ích đề tựa năm Cảnh Thịnh Bính Thìn (1796).

3948. TRUNG HỌC VIỆT SỬ BIÊN NIÊN TOÁT YẾU.                            A. 328

     Tóm lược lịch sử Việt Nam từ Hồng Bàng đến Gia Long.

     Ngô Giáp Đậu soạn, Đỗ Văn Tâm nhuận chính.                                                  : 425

3949. TRUNG HỌC VIỆT SỬ TOÁT YẾU

     Ngô Giáp Đậu biên soạn, Phạm Văn Thu duyệt, Đoàn Triến, Phạm Văn Thụ, Cao Xuân Dục đề tựa. In lần đầu 1911. Có 22 bản in.

VHv. 987/11-4...                               : 426

3960. TRÙNG KHẮC TÂM ĐĂNG KẾ TRUYỀN

     Sự hình thành của thế giới gồm 9 kiếp. Kiếp thứ nhất: từ hư không cho đến khi có trời đất. Kiếp thứ hai: có nước, lửa, mặt trời, mặt trăng, bát quái. Kiếp thứ ba: có thái dịch, thái sơ, thái thủy, thái tố, thái cực, trời biến thành 36 tầng, đất cũng có 36 tầng. Kiếp thứ tư: có Bàn Cổ. Bàn Cổ chết, hóa ra vạn vật. Kiếp thứ năm: xuất hiện Tam Hoàng tức Thiên Hoàng, Nhân Hoàng, Địa Hoàng. Kiếp thứ 6: có Ngũ Đế là Nguyên Thủy Thiên Tôn, Hư Hoàng Đại Đạo, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân, Cù Vân Đại Sư. Kiếp thứ bảy: Thích Ca ra đời. Kiếp thứ 8: Thích Ca Mâu Ni thành Phật. Kiếp thứ 9: Thích Ca giảng về Phật pháp.

3964. TRÙNG TƯƠNG TÂN LỤC    AB. 492

     Truyện Tư Mã Mạo: chàng tên Trùng Tương, người đời Hán, học giỏi, thi không đậu, lại gặp lúc gia biến, phẫn chí, làm thơ văn có câu xúc phạm đến Thiên Đình. Trời sai Diêm Vương bắt Trùng Tương xuống Âm Ti để thử tài bằng cách cho xử các vụ kiện như Hàn Tín kiện Bái Công, Hạng Võ kiện 6 tướng, két quả việc nào cũng được Trùng Tương xử đâu ra đấy. Tư Mã Đạo do vậy được tha về trần gian, sau đầu thai thành Tư Mã Ý.                                               : 435

3979. TRỪNG KHÊ THI VĂN TẬP  VHv. 268

     Ngô Thạc Phủ, hiệu Ngọc Phong soạn năm 1863 (Tự Đức Quí Hợi).                           : 443

3989. TRƯƠNG VIÊN DIỄN CA. VNb. 80

     Vở chèo Trương Viên: Trương Viên, một học trò nghèo, quê ở Vũ Lăng. Mẹ chàng già yếu. Vợ chàng là Phương, con quan Thừa tướng. Trương Viên theo lệnh vua đi dẹp giặc xa. Ở nhà giặc đến, Phương phải dắt mẹ vào rừng lánh nạn. Chẳng may mẹ bị đau nặng, Phương phải khoét hai mắt của mình để cúng thần, cứu mẹ thoát chết. Sau đó nàng được Tiên Nga dạy cho nghề đàn hát, hai mẹ con dắt díu nhau đi hát rong kiếm sống. Tình cờ một hôm, Phương và mẹ đến nơi Trương Viên đóng quân, Trương Viên cho mời Phương vào hát. Mẹ con vợ chồng lúc này mới gặp nhau. Trương Viên đưa ngọc lưu li là kỉ vật ngày hai vợ chồng mới lấy nhau cho Phương xem, bỗng nhiên hai mắt của Phương lành lại như cũ. Gia đình từ đấy đoàn tụ. Trương Viên được vua phong là Tướng quốc Nguyên nhung, còn Phương được phong nhất phẩm phu nhân.                                     : 449

4000. TRƯỚNG HẠ BI KÍ HÀNH TRẠNG TẠP VĂN.                                        A. 2909

     Sự tích hai công thần triều Lê: Ngô Công Bảo và Mai Xuân Bảng.                       : 454

4022. TÙNG HIÊN BẢO QUANG NGÔ TỬ VĂN TẬP.                                              A. 2144

     43 bài văn, thơ của Ngô Đình Thái (tự Bảo Quang, hiệu Tùng Hiên) làm hộ người khác: 463

4023. TÙNG HIÊN TẬP.          VHv. 1469

     87 bài  văn của Ngô Đình Thái.           : 463

4204. TÙNG HIÊN TRƯỚNG SÁCH VĂN

             A. 530

     35 bài văn sách của Ngô Đình Thái.    : 463

4032. TÙY THỜI ĐẠI NGHIỆP BI VĂN.

VHv. 2369

     Nguyễn Nhân Khí   Hà Nam soạn năm Tùy Đại Nghiệp Mậu Dần.

     Viên mục xã Phù Liễn chép lại vào năm  Vĩnh Khánh Tân Hợi (1731), Chu Văn Liên chép lại vào năm 1952.

     Tú tài Ngô Bá Chuẩn ở Phù Liễn sao lại vào năm Thiệu Trị 2 (1842).

     Bài văn bia ở đền x. Phù Liễn, tg. Thạch Khê, h. Đông Sơn, ph. Thiệu Hóa, t. Thanh Hóa: tài học và sự nghệp của viên quan cai trị Châu Ái dưới thời thuộc Tùy.               : 467

4046. TUYẾT TRAI THI TẬP        A. 1854

     161 bài thơ dùng làm mẫu cho người học làm thơ, do Ngô Thời Ức soạn.                 : 475

4047. TƯ HƯƠNG VẬN LỤC.         A. 699

     66 bài thơ của Lê Quang Bí gửi gia đình trong 19 năm ông đi sứ TQ, bắt đầu từ năm Gia Tĩnh 33 (1554).                                        : 476

4137. TƯỜNG TỘC PHẢ KÍ.           A. 1642

     Gia phả họ Tường, vốn là họ Đỗ, ở x. Bối Khê, h. Khoái Châu, Hưng Yên. Từ thủy tổ trở xuống có 12 đời.

     Tường Duy Quý soạn, Tường Vĩnh Tuy chép năm Khải Định 2 (1917).                        : 515

4161. VẠN PHƯƠNG TẬP NGHIỆM. A. 1287

     100 bài thuốc gia truyền, do Ngô Tỉnh tự Văn Tỉnh, hiệu Trấn An soạn, Nguyễn Nho hiệu chỉnh, Nguyễn Địch sao lục. Bài tụa đề năm Cảnh Hưng Canh Ngọ (1762).                  : 529

4172. VĂN DUYÊN DIỄN HÍ.      AB. 280

     Vở tuồng diễn sự tích Văn Duyên (Đoan): Văn Duyên tên thật là Lía, người Qui Nhơn, mồ côi cha từ nhỏ, rất thương mẹ, hay bắt trộm gà vịt mang về cho mẹ. Mẹ Lía không đồng tình, răn dạy nhiều lần, đem Lía giao cho thầy học, nhưng Lía bỏ học. Sau Lía cùng với Hồ và Nhẫn vào rừng lập hội “Anh hùng hảo hớn”, thường cướp của kẻ giàu chia cho người nghèo.

                                                           : 535

4175. VĂN ĐẾ CỨU KIẾP CHÂN KINH DIỄN ÂM.                            AN. 141

     Ngô Vi Lâm diễn Nôm theo thể thơ 6-8, cuốn Văn Đế cứu kiếp chân kinh của TQ.  : 536

4223. VÂN CÁT LÊ GIA NGỌC PHẢ. A. 3181.

     Gia phả họ Lê ở th. Vân Cát, x. An Thái, h. Vụ Bản: thủy tổ là Lê Tư Vinh, con thưs 5 của Lê Bang Cơ (Nhân tông). Sau khi họ Mạc cướp ngôi vua Lê, Tư Vinh chạy về thôn Vân Cát, lấy vợ là Trần Thị Thục, sinh Tư Thắng. Thắng sinh Giáng Tiên, tức là Công chúa Liễu Hạnh.

     Hương cống Nguyễn Quốc Trinh biên soạn năm Vĩnh Tộ 5 (1623). Sao chép lại  năm Bảo Đại 15 (1940).                                      : 556

4224. VÂN CÁT THẦN NỮ CỔ LỤC. A.1927

     Sự tích vị nữ thần ở th. Vân Cát, h. Vụ Bản  thời Lê Anh tông: nữ thần tên thật là Giáng Hương, lấy một người họ Đào, sinh được 1 trai, 1 gái. Năm 21 tuổi, Giáng Hương chết. Sau lại đầu thai  lấy một người họ Lưu (chính là người chồng cũ, cũng đầu thai), sinh thêm 1 gái. Người chồng thi đỗ TS, làm quan ở Viện hàn lâm. Sau khi mất, Giáng Hương rất linh thiêng, nhân dân lập đền thờ ở Phố Cát.            : 556

4328. VIỆT SỬ TIÊU ÁN.          A. 11 ...

     Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ soạn: bình luận về một số sự kiện lịch sử VN từ Hồng Bàng cho đến cuối Trần. Sau được đưa vào Đại Việt sử kí in thời Tây Sơn.                                       : 616

4340. VĨNH GIA THÁM HOA PHAN KÍNH TRUYỆN.      VHv. 1352.      MF. 1842

     Tiểu sử, hành trạng của Phan Kính: ông húy

Sưởng, tự Dĩ Trực, hiệu Tĩnh Trai, quê ở th. Vĩnh Gia, h. La Sơn, t. Hà Tĩnh, đỗ TH (1743), được nhà Lê trọng dụng, cho làm Đông các học sĩ lúc 37 tuổi. Sau khi mất được phong làm Phúc Thần Đại Vương.                            : 622

4355. VỊNH SỬ THI QUYỂN.  A. 849.

     334 bài thơ đề vịnh thắng cảnh, danh nhân,...

Bản trên có ghi chú như sau: “Sách gia đình họ Bùi; còn một tên nữa là “Tứ hổ, An Nam tứ đại tài”, gồm Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Trác Luân, Nguyễn Bá Lân, Ngô Tuấn Cảnh” : 630

4361. VŨ DÙ THỊ TIÊN SƯ DI SỰ KHẢO.

A. 1161,  MF. 1614

     Sự tích Bùi Quốc Khải, người x. Quất Động, tg. Bình Lăng, h. Thượng Phúc, ph. Thường Tín, trấn Sơn Nam, có công dạy dân các làng Đô Quan,Tam Xá, Phi Dương,Vũ Lăng và Hương Giải làm dù. Tương truyền trong chuyến đi sứ TQ vào đời Lê Thái tông (1343-1442), Bùi quốc Khái được triều đình nhà Minh thử tài  bằng cách cho ở trong một gian nhà trên gác đã bị lấy mất cầu thang. Bùi quốc Khái phát hiện ra trong nhà có một tượng Phật, một lò hương, một bát nước sạch và 2 chiếc dù. Nhanh trí cho rằng, Phật chả lẽ bày vô cớ, ông tách đôi Phật ra, thấy có nhiều bột mì để bên trong. Có bột mì, có lò hương, có nước sạch, thế là đã có cái duy trì cuộc sống. Ông quan sát kĩ 2 chiếc dù, đặc biệt là cách làm ra nó, rồi cầm mỗi tay một chiếc, nhảy xuống sân nhà một cách an toàn. Sau khi về nước, ông truyền lại kỉ thuật làm dù cho địa phương, được dân tôn thờ ông làm tiên sư. : 633

4403. VŨ THỊ GIA PHẢ.                  A. 2941

     Gia phả họ Vũ ở ph. Thiệu Hóa, t. Thanh Hóa, bắt đầu từ thủy tổ là Vũ Uy, người Chiêm Thành theo vua Lê Thái tổ đánh quân Minh lập  nhiều chiến công, được ban quốc tính.       : 654

4436. XUÂN THU QUẢN KIẾN.  VHv. 806

     Lời bình của Ngô Thì Nhậm về các sự kiện chép trong sách Xuân Thu. Soạn năm 1786: 673

4447. XƯỚNG KHÚC TẬP THI.   AB.195

     Một số bài hát ả đào....

     Nam Dương Ngô Đình Thái, tự Bảo Quang, hiệu Tùng Hiên  soạn.                     : 679

4513. YÊN ĐÀI THU VỊNH.       A. 1697

     Thơ văn Ngô Thì Nhậm làm trong thời gian đi sứ TQ (1793).

     Tùng Hiên hiệu duyệt, Thận Trai biên tập, Thì Trí sao chép.                                : 714

 

 

 

DI SẢN HÁN NÔM VIỆT NAM THƯ

            MỤC ĐỀ YẾU

   NXB KHOA HỌC XÃ HỘI 1993

 THƯ VIÊN QUỐC GIA: VV 353/93                     

              VV356/93

 

                  TẬP MỘT

16. AN NAM HÀ TIÊN THẬP VỊNH A.441

      Mười thắng cảnh Hà Tiên: Kim dữ lan đào (Đảo vàng chắn sóng), Bình sơn điệp thúy (Bình sơn núi biếc), Tiêu tự hiểu chung (Chuông sớm chùa Tiêu), Giang Thành dạ cổ (Trống đêm Giang Thành), Thạch Động thôn vân (Thạch Động ngậm mây), Chu Nham lạc lộ (Cò đậu Chu Nham), Đông Hồ ấn nguyệt (Trăng rọi Đông Hồ), Nam Phố trưng ba (Sóng yên Nam Phố), Lộc Trỉ thôn cư (Thôn cư Lộc Trỉ) và Khê ngư bạc (Thuyền đậu Lư Khê).

93. BÁI DƯƠNG NGÔ THẾ VINH KINH HỒI TIỄN HÀNH.               A. 2639

     Thơ của bạn bè, học trò...tiễn Ngô Thế Vinh về quê dưỡng lão.

     Dươngg đình Ngô Thế Vinh biên tập.    : 56

94. BÁI DƯƠNG NGÔ TIÊN SINH THI TẬP  A.2449.

     350 bài thơ của Ngô Thế Vinh  dùng làm khuôn mẫu cho học trò và 350 bài thơ luyện thi ở trường Ngô Thế Vinh.                    : 56

95. BÁI DƯƠNG THI TẬP.              VHv. 142  

     382 bài thơ của Ngô Thế Vinh làm trong 2 năm 1841-1842, gồm thơ thuật sự, vịnh sử, cảm hoài,...                                                  :57

96. BÁI DƯƠNG THƯ TẬP.          VHv. 139 

     Tập văn của Ngô Thế Vinh, gồ thư từ trao đổi với đồng liêu, bạn bè, câu đối, văn mừng,..

Văn bia 12 đời vua Trần, văn bia nhà thờ họ Đoàn, họ Đào,...                                : 57

103. BẢN QUỐC DỊ VĂN. A. 3178 , A.3197

     30 truyện lạ, gồm truyện dân gian; truyền thuyết lịch sư; giai thoại, truyền thuyết về các nhân vật lịch sử. Trong phần sau cùng này,có bài viết về Ngô Tuấn Cung.                : 62

     (Dân gian có câu: Tuấn Cung, Tuấn Dị hữu nhị vô tam).

234. CHIẾU BIỂU PHÚ HỢP TUYỂN          VHv. 1926

       Đầu đề 3 kì thi Hội năm Ất Sửu (1965); một số bài văn sách, thơ phú của những người thi đỗ, trong đó có Ngô Văn Phát.

262. BÌNH VỌNG NGUYỄN THỊ GIÁP PHÁI GIA PHẢ.               A. 634

     Gia phả chi Giáp của họ Nguyễn l. Bình Vọng, h. Thượng Phúc, ph. Thường Tìn. Chi này vốn trước là họ Lê.

     Do Kính Trai Nguyễn Thức biên  tập, Ngọc Đường Nguyễn Dư hiệu chỉnh năm 1828, Tùng Hiên Nguyễn Triết Huân viết tựa 1829    :157.

279. BỒI TỤNG CÔNG VĂN TẬP  A. 527

     Cựu văn ban Ngô Trọng Khuê biên tập. Thơ văn của Ngô Duy Viên (tức Ngô Trọng Khuê), làm quan Bồi tụng cuối đời Lê, gồm: thơ dạy con, tuyệt bút, tiễn bạn bè....                : 165

295. BÚT HOA TÙY LỤC.          A. 2690

     Hương Thụ Sơn Nhân biên tập năm 1893.

     Văn thơ mừng Nguyễn Đỉnh Thần đỗ TS (1892) của những người trong họ trong thôn, họ ngoại và của: Hoàng Cao Khải, Ngô Quang Huy, Bùi Hướng Thành,...                  : 174.

        (Có lẽ là Nguyễn Đĩnh: La Chử, Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế)

340. CẢM ỨNG THIÊN GIẢI ÂM.  AN. 116

     Gồm nguyên văn chữ Hán và bản dịch Nôm của Ngô Văn Bỉnh, hiệu Cúc Hòe.    : 199

376. CẢO PHONG CÔNG THI TẬP. A. 516

     Thơ văn của Ngô Duy Viên làm chức Bồi tụng vào cuối thời Lê. Có thơ tiễn Lê Quí Đôn đi làm Tuần phủ Thuận Hóa, thơ tặng Bùi Huy Bích. Nhiều bài làm dưới thời Quang Trung: biểu tạ ơn khi được triệu vào Phú Xuân,..  : 225

454. CHIÊU QUÂN CỐNG HỒ TRUYỆN

                 VNb.  70

     Truyện thơ Nôm 6-8, chia thành 40 đoạn, kể lại chuyện Chiêu Quân: nàng nguyên tên là Vương Tường, con gái viên quan Tri phủ họ Vương ở Việt Châu, có nhan sắc, lại có tài thi họa, được đón vào cung làm Vương phi. Quan Khâm sai Mao Diên Thọ hận vì không được cha con họ Vương trọng đãi, đã tìm cách làm hại, buộc Hán Nguyên Đế phải đem nàng cống cho vua Phiên. Trên đất Hồ, Chiêu Quân đã khéo léo mượn tay vua Phiên để diệt tên phản thần Mao Diên Thọ, và thả các tướng Hán đang bị Phiên giam giữ. Nàng lại yêu cầu vua Phiên bắc cho chiếc cầu nổi, nói là để tế thần Bạch Dương. Sau lễ tế, Chiêu quân đã từ trên cầu gieo mình xuống sông tự tử, giữ trọn tiết trinh. Em gái nàng, Trại Chiêu Quân, được Tiên ban cho phép lạ, lại được tuyển làm Chánh cung, đem quân đánh Hồ, báo thù cho chị và rửa hận cho nhà Hán.                                  : 267

526. CHƯ ĐỀ MẶC.         VHv. 18

     Trong tập thơ văn đề vịnh này, có Nhị Thanh động mặc tích gồm thơ, phú, bi kí về động Nhị Thanh ở Lạng Sơn. Bài tán về bức tranh truyền thần và bài phú động Nhị Thanh của Ngô Thì Sĩ.                                                         : 310

552. CỐ LÊ TẢ THANH OAI TIẾN SĨ NGÔ THÌ SĨ CÔNG THI SAO=CỐ LÊ NGỌ PHONG MẶC NGẤN.         VHv. 21

     Gồm 3 tác phẩm:  1. Nhị Thanh thi văn tập

2. Quan lan tập 3. Vọng triều tập.   : 325

564. CỔ KIM TRÙNG TÍNH TRÙNG DANH KHẢO.                           VHb. 271

      Bảng tra các nhân vật lịch sử trùng họ, trùng tên từ xưa cho đến thời cận đại. Dưới tên mỗi người có ghi rõ quê quán, thời đại, chức tước.

     Đặng Xuân Khanh, hiệu Mai Phong  biên tập.                                                           :336

597. CÚC ĐƯỜNG BÁCH VỊNH THI TẬP.   A. 1168

    Trong đó có thơ xướng họa giữa Ngô Thì Nhạm và Phan Huy Ích.                         : 355

609. CÚC THU BÁCH VỊNH TẬP.   A. 1554

     100 bài thơ xướng họa giữa Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm trong dịp tết Trùng Dương:362.

637. CỨU SINH TRỊNH THÁNH TỔ SỰ TÍCH.  VHv. 2946.   

     Sự tích Hòa thượng Trịnh Hợp: ông tên húy Như Như, tên hiệu là Lân Giác, người Sóc Sơn, Vĩnh Phú là con thứ 11 của Tham tể Tấn Quang Vương. Trịnh Hợp sinh năm 1696, lớn lên rất thông minh, tuấn tú, được vua Hy tông gả Công chúa. Nhưng ông bỏ di tu ở chùa Yên Tử. Sau trở thành Bồ Tát.                                     : 374.

 666. DANH HỔ KHIẾU ĐỘNG SAN THÀNH LƯU ĐỀ THẠCH BÍCH THII TỊNH KÍ =HỒ KHIẾU ĐỘNG ĐỀ THI TỊNH KÍ.

 VHv. 1787 

     Có bài kí của Ngô Thúc Hựu đề ở động Hồ Khẩu, trên núi Hổ, h. Vụ Bản.               : 392

695. DAO ĐÌNH THI TẬP.               A. 1852

     Trong đó có Quan Lan Sào thập cảnh gồm 129 bài thơ của Ngô Thì Sĩ và một số người khác đề vịnh các thắng cảnh ở x. Cự khánh, h. Đông Sơn, Thanh Hóa.                        : 407       

701. DI ÁI XÃ TRẦN GIA PHẢ KÍ. A.681

     Hành trạng Trần Mô: ông nội Mô là Trần Thánh Ca, người Phúc Kiến, TQ, tránh loạn đời Thanh đến x. Di ái, h. Dan Phượng làm nghề dệt gấm. Trần Mô đỗ TS năm 1733, làm Đông các Đại học sĩ.                                     : 410

708. DI TRẠCH ĐƯỜNG PHẢ KÍ.   A. 1294

     Gia phả 6 đời họ Nguyễn Huy ở x. Phú Thị, h. Gia Lâm, có thơ văn của Nguyễn Huy Cận.

     Tiền quân Văn hầu Nguyễn Huy Doanh, biên tập, Viên Am Nguyễn Huy Quýnh hiệu đính,  Ngô Quế Hương viết tựa từ 1802-1804.

746. DU HƯƠNG TÍCH ĐỘNG KÍ.  A. 2814

     Trong đó có: Du Hương Tích động thi tập: do  Án sát  Hà Nội Đặng Lương Hiên soạn, Nguyễn Chí Đình phẩm bình, TS Nguyễn Tùng Thúc phê duyệt, TS Ngô Tham bình luận.  : 431

782. DƯƠNG ĐÌNH PHÚ LƯỢC.   VHv. 430     

     Những bài phú của Ngô Thế Vinh và các tác giả khác như Đỗ Phát, Ngô Bảo Phong, Phạm Vĩ, Dặng Huy Trứ...                             : 451

783. DƯƠNG ĐÌNH PHÚ PHẢ.       A. 1607

     65 bài phú của Ngô Thế Vinh, dùng làm mẫu cho lối văn thi cử.                         : 451

784. DƯƠNG ĐÌNH TANG SỰ THI TRƯỚNG ĐỐI LIÊN TẬP.                       A.1243

     Thơ, văn tế, văn đối sử dụng trong dịp lễ tang của thân phụ, thân mẫu, anh cả (tên là Tùng Hiên), con trưởng (tên là Ngô Thế Quý) của Dương Đình.                                

     Môn sinh, CN Vũ Doãn Khải biên tập:   451

785. KHẤP VÃN DƯƠNG ĐÌNH THI TRƯỚNG TẬP.                       A. 1302

     Thơ, trướng văn, câu đối, văn tế, ...của đồng liêu, bạn hữu, đồng tộc khóc Ngô Thế Vinh, trong đó có những tác giả như Đỗ Trọng Khiêm, Nguyễn Văn Đạo, Nguyễn Giang Hiên, Giám Hồ, Ngụy Khắc Tuần, Phạm Văn Nghị, Nhữ Bá Sĩ, Hà Tông Quyền,..            : 452

811. ĐẠI ĐIÊN THÁNH SỰ TÍCH.   A. 2721

     Sự tích thánh Đại Điên ở th. Tiền, x. Dịch Vọng, h. Từ Liêm: Ông tên húy là Lê Nghĩa, một nhà sư triều Lý, đạo thuật rất tinh thông, có công giúp vua. Sau khi  mất, ông được phong là Lê Đại Điên Giác Hoàng Thiền Sư và đượcc dân x. Dịch Vọng lập đền thờ.

     Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc thứ nhất (1572), Nguyễn Hiền phụng sao năm Vĩnh Hựu 3 (1737). Chép lại vào năm Duy Tân 9(1915):466

825. ĐẠI MỖ NGUYỄN TỘC TÂM ĐẠI VƯƠNG PHẢ KÍ. VHv. 1337, VHv. 1338

      Trong đó có  Thám hoa quốc lão trí sĩ Thái tể đại vương phả kí do Hà Tông Huân, Nghiêm Bá Đĩnh soạn năm Vĩnh Hựu 2 (1936) ghi về hành trạng của Nguyễn Quý Đức.         :  473

871. ĐẠI NAM QUỐC TÚY.           AB. 178

     1800 câu phương ngôn, tục ngữ, xếp thành 46 bài (mục). Ngoài ra còn có khoảng 600 câu ca dao.

      Tam Thanh Hiếu liêm Ngô Giáp Đậu biên tập năm Duy Tân 2 (1908).                  : 500

911. ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TIỀN BIÊN. A.2/1-7

     Ngô Thời sĩ biên soạn. Khắc in năm Cảnh Thịnh 8 (1800).                              : 525

953. ĐẶNG PHẠM TỘC GIA PHẢ. A. 3043

     Gia phả 10 đời của họ Đặng Phạm ở l. Từ Liêm. Họ này trước là họ Phạm, đến đời thứ 3, An Trung đổi thành Đặng.                       : 550

1011. ĐIỆN THỪA LIÊN KHÊ CÔNG NIÊN PHẢ.                        A. 1005

     Tiểu sử của Nguyễn Liên Khê: tổ tiên nguyên họ Lê, đến đời Nguyễn Hữu Đăng đổi thành họ Nguyễn, ở Phường Phúc Bồ, ph. Phụng Thiên. Liên Khê từng đỗ Điện thí, làm Cổ Pháp  điện Tự thừa.                         : 575

1114. ĐÔNG ĐỒ XÃ NGÔ GIA PHẢ KÍ.

A. 1487

     Gia phả  6 đời của họ Ngô ở x. Đông Đồ, h. Đông Anh. Họ này vốn ở th. Xuân, x. Đồng Bàng, h. Yên Định, ph Thiệu Thiên, xứ Thanh Hóa, có Ngô Tây, Ngô Kinh, Ngô Từ là công thần triều Lê.                                     : 626

1128. ĐÔNG NGẠC NGUYỄN TỘC THẾ PHẢ.                        A. 1434,  A. 652

     Gia phả họ Nguyễn ở x. Đông Ngạc, h. Từ Liêm: thủy tổ là Đào Quý Công hiệu Thủ Phận, TS triều Lê, quán x. Phù Đỗng, h. Tiên Du, trấn Kinh Bắc, con thứ của Phò mã Đào Tướng công, vì gia biến, chuyển tới l. Nguyệt Áng, h. Thanh Trì, đến đời Phú Khiên, chuyển về Đông Ngạc, đổi thành họ Nguyễn.

Bài tự làm năm Kiến Phúc thứ nhất (1884): 633

1324. HÀN CÁC ANH HOA=NGÔ GIA VĂN PHÁI HI DOÃN CÔNG TẬP.    A. 2170

     20 bài khải, chiếu, biểu của Ngô Thì Nhậm soạn vào cuối Lê và thời Tây Sơn.          : 746

1328. HÀN CÁC VĂN THỂ TRÌNH THỨC.

 A. 281

     Những bài văn trúng cách trong các khoa thi Hội đời Lê. Mỗi bài đều có ghi tên người soạn, như Phạm Khiêm ích, Vũ Công Trấn, Nguyễn Công Thái, Hà Tông Huân, Ngô Bật Lượng, Hoàng Nghĩa Phú, Bùi Cầu, Đào Nghiễm.: 749

1369. HIỆN KIM BẮC KÌ CHI ĐỊA DƯ SỬ.

A. 398

     Lịch sử Bắc Kì và địa dư 2 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng), 2 đạo (Hà Dương, Lai Châu) và 25 tỉnh thuộc Bắc Kì.

     Giáo thụ phủ Hoài Đức  Ngô Giáp Đậu biên soạn.                                            : 773

1431. HOAN CHÂU PHONG THỔ KÍ

       VHv. 1719               VH v. 1458  

     Địa lí Nghệ An, do Đốc Đồng Nghệ An là Trần Danh Lâm soạn.

     Bản VHv. 1719 còn có  Đông Thành phong thổ kí của Ngô Trí Hiệp soạn.            : 810

1432. HOAN CHÂU PHONG THỔ THOẠI

     VHv. 1376

     Trong đó có Nghệ An phong thổ kí  do Bùi Dương Lịch soạn. Có 42 bài thơ vịnh  phong cảnh Nghệ An cử Ngô Thời Phùng, Lê Hồng Phổ, Trần Thức Cốc, Đỗ Phúc Ngũ,        : 812

1439. HOÀNG CÁC DI VĂN.   A. 2137

     Văn kiện nhà nước thuộc 3 triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị.

     Ngô Thế Vinh biên tập và viết tựa  năm Thiệu Trị 7 (1847).                              : 818

1441. HOÀNG CHIÊM ĐỊA LÝ CẢO. A. 458

     126 hình vẽ các kiểu đất quý của các địa phương trong nước.

     Hoàng Chiêm tức Nguyễn Đức Huyền, hiệu Phú Hưng, người l. Tả Ao, h. Nghi Xuân : 821

1447. HOÀNG HOA ĐỒ PHẢ.   A. 2871

     115 bài thơ của Ngô Thì Nhậm làm trong dịp đi sứ TQ năm Quý Sửu (1793) để báo tang Quang Trung và cầu phong cho Quang Toản   

                                                :824

1492. HOÀNG VIỆT LONG HƯNG CHÍ. A.23

     Tiểu thuyết lịch sử 34 hồi, nói về quá trình xây dựng cơ  nghiệp của  nhà Nguyễn, kể từ Nguyễn Kim phò Lê chống Mạc cho đến khi Gia Long đánh Tây sơn, bắt đượcc Quang Toản, lập nên triều Nguyễn.                   :  851

1501. HOÀNG VIỆT THÁI PHÓ LƯU QUÂN MỘ CHÍ.          A. 1027

     Soạn năm Thiên Thuận 3 (1130).

     Mộ chí của hai anh em Lưu Khánh Đàm và Lưu Khánh Ba, người th. Yên Lãng, quận Cử Chân, đều kês nhan làm chức Thái phó triều Lí, khi mất được phong làm Thành hoàng.

     Bài văn bia do Ngô Thế Vinh soạn năm Tự Đức 8 (1955).                                 :    856

1512. HOẠT NHÂN BỊ YẾU.     A. 2798

     Phú, Luận, ca nói về  phép chẩn mạch, xét khí sắc con người, tính chất và cách thức dùng một số thuốc Nam, Bắc..             : 862

1561. HÙNG TRIỀU NGÔ TƯỚNG CÔNG SỰ TÍCH VĂN.        AB. 359

      Bài văn chầu kể sự tích Ngô Long, con một thầy lang người TQ đời Tần, lánh nạn sang l. Thanh Qua, h. Thanh Oai, có tài văn võ, giúp vua Hùng thứ 18 dẹp giặc, được phong tặng Thượng Trụ Quốc Công.                        : 893

1591. HƯƠNG MẶC XÃ NGÔ TỘC GIA PHẢ.                          A. 675

     Gia phả  do cháu nhĩ tôn Nguyễn Trọng Quýnh, tự Đạo Hiên biên tập năm Mậu Ngọ 

                                                            : 909 

               HẾT TẬP MỘT

 

1622. KHẢI ĐỊNH NGỰ GIÁ NHƯ TÂY THI TẬP           VHb. 2

      Có nói tới con cháu Nguyễn Văn Chấn (Dayot), Nguyễn Văn Thắng (Vannier), Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine)       : 5

1624. KHẢI TIẾN THI BIÊN A.1226

     Ngô Đôn biên tập, Nguyễn An Chi duyệt bình. 112 tr.                                   : 7

1645. KHẢO XÍCH ĐẠC BỘ PHÁP

VHv  2556

     Ngô Thế Vinh biên tập, chép lại năm Hàm Nghi 1 (1885). Khảo cứu cách đo đạc bằng thước và bằng bộ (bước chân) từ thời Hoàng Đế, Hạ, Thương, Chu đến Hán, Đường, Tống                         : 18

1679. KHỔNG LỘ, GIÁC HẢI NHỊ THÁNH TỔ SƯ                A. 2961

     Sự tích hai vị thánh tổ Khổng Lộ và Giác Hải: Khổng Lộ tức Nguyễn Chí Thành người l. Đàm Xá, h. Gia Viễn, t. Ninh Bình.

     Giác Hải tức Nguuyễn Quốc Y người, h. Hải Thanh, h. Giao Thủy, t. Nam Định . Hai người cùng sang Tây Trúc học đạo và kết bạn với Từ Đạo Hạnh. Về nước, Khổng Lộ chữa khỏi bệnh cho Lý Thần tông, được phong là Quốc sư, Giác Hải trừ được Mộc Tinh, được ban họ vua.                    : 35

1684. KHÚC GIANG NGÔ DƯƠNG ĐÌNH VĂN TẬP    A. 803

1691. KHƯƠNG CÔNG PHỤ SỰ TRẠNG KHẢO               A. 2912       MF. 1549

     Khương Công Phụ, tự Văn Khâm, người phường Cổ Hiểm, h. Cửu Chân, châu Ái, đỗ TN đời Đường, làm Tể tướng đời Đường Đức Tông, sau bị truất làm Biệt giá ở Tuyền Châu, đến đời Thuận Tông lại được bổ làm Thứ sử ở Cát Châu và bị bệnh chết ở Tuân Hóa thuộc Khâm Châu. Tại đó hiện có đền thờ ông.               : 42

1706. KIẾN SƠN SÀO THI VĂN TẬP

VHv 258/ 1-3

     Huyền Đồng Tử (Ngô Quý Đồng) soạn năm Tự Đức 4 (1851) gồm khoảng 750 bài thơ, 40 bài văn.   Có bài kí nói  về nước Việt Nam muốn đuổi kịp các nước văn minh thì phải bỏ lối học khoa cử cũ, mà phải học khoa học, học thực tế                                                       : 49

1708. KIẾN VĂN LỤC VH 1155 MF. 2411

     Vũ Trinh (1739-1828) hiệu Nguyên Hanh biên tập, trong đó có một số thần thoại hoặc truyền thuyết: Hồn Trương Ba da hàng thịt..

     Phần cuối có Tây Sơn thực lục tóm tắt triều Tây Sơn.                                        : 51

1716. KIỂU ĐẠI VƯƠNG THƯỢNG ĐẲNG THẦN KÝ LỤC                   A. 2625

     Ngô Thế Vinh biên tập, Ngô Đình Thái chép sự tích Kiều Công Hãn, quê Phong Châu làm Đề sát giám quốc sự thời Ngô, sau chiếm giữ Thai Châu, Hào Châu và Phong Châu, xưng là Kiểu Tam Chế, một trong số 12 sứ quân. Sau khi mất, được dân làng lập đền thờ.       : 55

1737. KIM NGỌC QUYỂN  AB. 152 MF.1830

     La Khê tiên sinh soạn (có lẽ là người họ Ngô), Thạch Viên chủ nhân  chú giải về hơn 400 bài thuốc chữa bệnh người lớn và trẻ em.

1740. KIM SƠN GIA PHẢ          A. 943

     Nguyễn Mậu Tài biên soạn năm Chính Hòa 1691. Gia phả họ Nguyễn, trước là họ Lê ở l. Kim Sơn, Gia Lâm, HN. Trong dòng họ có nhiều người đỗ đại khoa như: Nguyễn Mậu Tài (Ts. 1646), Nguyễn Mậu Di (Ts. 1659), Nguyễn Mậu Thịnh (Ts.1691), Nguyễn Duy Viên (Ts. 1694).                                                  : 68

1761. KINH BẮC NHƯ QUỲNH TRƯƠNG THỊ QUÝ THÍCH THẾ PHẢ.      A. 959

     Lê Quý Kiệt biên tập năm Cảnh Hưng 40 (1779). Gia phả họ Trương ở Như Quỳnh, ông tổ Trương Lôi tự Cự Khanh, gốc Thanh Hóa, có công giúp vua Lê, được phong Khai quốc công thần. Sau con cháu dời đến Như Quỳnh, h. Gia Lâm. Trong họ có Trương Bà, tên húy là Trong, từng là Thị nội cung tần, Thương Hòa Tôn Thái Phu Nhân (em trai bà là Quốc cậu, bị kiêu binh phá nhà và là bố vợ Đại tư đồ Hoành Quận công Ngô Phúc Phương).                         : 79

1796. LA KHÊ XÃ TÂY THÔN  KHOÁN ƯỚC.                                          A. 970

     Khoán ước của họ Ngô -La Khê về việc thờ thần, vào đám, ma chay, cưới xin và thể lệ tô thuế ruộng chùa, ruộng hậu...                  : 95

1803. LA TỔ TRUYỆN                 A. 2560

     Truyện La Thị người Tức Mặc, NĐ, đi lính thú sang Thiểm Tây, gửi vợ con ở nhà cho người bạn họ Lý, Khi trở về biết vợ  ngoại tình với bạn,  bèn bỏ đi tu, thành đạo, gọi là La Tổ. Sau người con cũng đi tu gọi là Tiểu La Tổ: 99      

1821. LAM SƠN VĨNH LĂNG DỤ LĂNG BI SAO.                     VHv.   1384/1-2   MF. 1647

     Bản sao hai bài văn bia: 1) Bài khằc ở bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn năm 1435, ghi niên hiệu, nguồn gốc, sự nghiệp của Lê Thái tổ (1385-1433). 2) Bài khắc ở bia Dụ Lăng do Nguyễn Nhân Thiếp và Phạm Thịnh soạn năm 1504, ghi niên hiệu, nguồn gốc, sự nghiệp của Lê Hiến tông (1498-1504).                      : 109

1827. LAN KHÊ NGUYỄN TỘC PHẢ

VHv.  1339/1-2.

     Gia phả họ Nguyễn ở l. Lan Khê, h. Nông Cống.Vốn họ Hà ở l. An Lãng, ph. Thiệu Hóa; đến đời Lê Thánh tông, hai anh em Hà Thọ, Hà Thiệu mộ dân tới Nông Cống khai hoang và lập thành l. Lan Khê. Sau Hà Thiệu (đời thứ 7) làm con nuôi họ Nguyễn ở l. Đức Trạch, đỗ TS đổi thành họ Nguyễn (nay đã trở lại họ Hà).   : 112

1848. LẬP TRAI PHẠM TIÊN SINH THI TẬP

     Phạm Lập Trai (Quý Thích) soạn, Ngô Duy Viên sơ duyệt, Bùi Tồn An biên tập.

A. 400                                                  : 122

1850. LẬP TRAI THI TẬP     VHv. 1462/1-2

     Trong tập này có Nghĩa Khê thi tập (trong VHv. 2244 từ tr.96-121) của Phạm Sĩ Ái, người xã Trung Lập, h. Đường Hào, t. Hải Dương.  :123        

1919. Đinh Nhạ Hành là cháu 6 đời Đinh Văn Tả, người l. Hàm Giang, h. Cẩm Giàng  : 160

1936. LÝ THỊ GIA PHẢ        A. 1075

      Lý Văn Phức biên tập năm Minh Mệnh 2 (1821). Gia phả họ Lý ở phường Hồ Khẩu, HN nguyên gốc ở l. Tây Hương, h. Long Khê, t. Phúc Kiến. Đến đời Lý Khắc Liêm, quan Tổng đốc tỉnh Vân Nam không chịu thần phục triều Mãn Thanh, trốn sang định cư ở phường Hồ Khẩu, truyền 6 đời đến Lý Văn Phức:       168 .           

1943. LỊCH ĐẠI DANH HIỀN PHẢ  A. 2245

     Tiểu sử, quê quán 178 người  đỗ đại khoa từ cuối Trần đến Lê Chiêu Thống.            : 171

1944. LỊCH ĐẠI DANH THẦN SỰ TRẠNG

     42 truyện danh thần và liệt nữ dưới triều Lê và Mạc, trong đó có Ngô Công Hoán (BN) và có nói gốc tích họ Ngô ở Hoàng Xá (tr. 112).

A. 264 MF. 337                                   : 172

1948. Phan Viễn Khanh tức Phan Huy Quýnh (1775-1844) là anh Phan Huy Chú.       : 174

1975. Phan Huy Sảng (1764-1811) là em Phan Huy Ôn (1755-1786).

1992. LIỆT THÁNH BẢO CÁO    A. 2403

     Văn giáng bút của Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, khuyên làm điều tốt, bỏ điều xấu: 197

1995... NGÃ QUỐC NHÂN NHẬP SĨ TQ

     Những người VN làm quan ở TQ: Lý Thân, Vương Trung, Đặng Nhượng, Lý Tiến, Lý Cầm, Nguyễn Gia, Khương Công Phụ, Triệu Thái, Nguyễn An, Dương Công Liên, Trương Ngạn Sán, Lê Dung, Trần Nho, Lê Nguyên Hồng, Lê Vinh Đình...

2048. LUẬN BIỆN TÁN TỤNG CA CHÂM VĂN TẬP.                           A. 1264

     Cao Huy Diệu, Hà Tông Huân, Lê Anh Tuấn biên tập gồm 28 bài luận, biện, tán... đề tài lấy trong sử sách TQ về các vấn đề đạo đức, chính trị, xã hội...                                            : 227

2056. LUẬN NGỮ THÍCH NGHĨA CA

A.186/ 1-2 VÀ VHv 709/3-6

     Tự Đức biên soạn, Hoàng Hữu Xứng, Ngô Huệ Liên duyệt, Hoàng Bỉnh, Nguyễn Hiệu kiểm hiệu. Diễn Nôm theo thể 6-8, 20 thiên sách Luận ngữ                                          : 230                                                  

2093. LƯƠNG GIA THẾ PHẢ VHb. 57, MF1764.

Gia phả họ Lương ở l. Bùi Xá (Tam Đồng) Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông tổ Lương Quý Hương, tự Phương Khê thụy Hoa Ngạc, hiệu La Tào. Do cháu 12 đời là Nhật Tỉnh biên tập năm Minh Mệnh 6 (1825).                                      : 248

2099. LƯƠNG XÁ ĐẶNG THỊ PHẢ

VHv. 1341/1-5

     Gia phả họ Đặng ở x. Mạc Xá (Lương Xá), h. Chương Đức, do Ngô Thì Nhậm viết tựa. Họ này là dòng dõi của Trần Hưng Đạo, đến đời Trần Văn Huy, đỗ TS triều Lê, lấy tên hiệu là Đặng Hiên. Từ đấy về sau con cháu đều đổi sang họ Đặng như Đặng Dư, Đặng Toản, Đặng Khuê. Trong họ có nhiều người hiển đạt như: Đặng Huấn, Đặng Tiến Vinh, Đặng Thế Tài, Đặng Tiến Thự... sau có Đặng Trần Thường theo Gia Long chống Tây Sơn làm tới chức Binh bộ thuợng thư...                                 : 252

2128.  MAI DỊCH TRÂU DƯ VĂN TẬP

VHv. 1417 và A. 1280

     Ngô Thì Vị biên soạn: 93 bài thơ, 1 bài ca, 12 bài phú vịnh phong cảnh, cổ tích trên đường đi sứ TQ vào khoảng 1820-1821.       : 267

2139. MÃO CẦU TRẦN TỘC PHẢ      A. 680

     Gia phả họ Trần từ đời thứ 5 đến đời thứ 15 ở x. Trần Xá, h. Nam Xang, Hà Nam. Họ này vốn ở x. Tức Mặc, h. Mỹ Lộc, Nam Định, sau

 chạy loạn đến Trần Xá                  : 272

2183. MỘ TRẠCH LÊ THỊ PHẢ A.658

     Gia phả họ Lê ở l. Mộ Trạch, h. Bình Giang, t. Hải Dương: thủy tổ là Lê Nhữ Huy, quê ở Lão Lạt, h. Thuần Lộc, Châu Ái, sau chuyển ra quê vợ l. Mộ Trạch. Con trai Nhữ Huy là Lê Cảnh Tuân sinh ra Lê Thúc Hiên và Lê Quý Đỉnh đều có công giúp Lê Thái tổ dẹp giặc Minh, từ đó hiển đạt đến 35 đời.                                 : 294

2191. A. 1102 có tiểu sử công thần triều Nguyễn:  Ngô Đức Tuấn...                      : 298

2243. NAM HÀNH THI KÍ       A. 1946.

     Giải nguyên Ngô Tùng Hiên soạn: gồm 35  bài thơ vịnh cảnh... trên đường  từ Hà Nội vào Huế năm 1820.                                         : 327

2252. NAM PHONG GIẢI TRÀO AB. 348, AB. 232.

     Ca dao tục ngữ VN dịch từ Nôm ra Hán.

Trần Liễu Am và Ngô Hạo biên tập, Trần Doãn Giác đề bạt.                                             : 331    

2305. NAM XANG LIỆT NỮ TRUYỆN.

AB. 125

     Truyện Võ Thị Thiết vf chồng là Trương Sinh ở h. Nam Xang. Trương Sinh đi lính. Ở nhà, tối đến trước ánh đèn, Thieets thường chỉ bóng mình  dỗ con: “Cha mày đấy”. Do vậy, khi Sinh về, con không nhận cha, nói: “Cha tôi đến tối mới về”. Bị chồng ngờ là ngoại tình, Thiết nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử.

     Mai Đình Nguyễn Hòa Hương soạn.   : 359

2330. NGHĨA KHÊ THI TẬP VHv. 2345

     Có tập thơ của Phạm Sĩ Ái gồm:thơ tiễn, tặng viếng bạn, đề vịnh...

2337. NGOẠI LÃNG DOÃN TƯỚNG CÔNG PHẢ KÝ          VHv. 1747

     Hành trạng và sự nghiệp của Doãn Uẩn, người l. Ngoại Lãng, h. Thư Trì, t. Thái Bình. Ông nhà nghèo, 34 tuổi đỗ CN, làm án sát tỉnh Định Tường, có công dẹp loạn Lê Văn Khôi, được phong An Tây mưu lược tướng.       : 374

2343. NGỌC ĐỒNG HƯƠNG ƯỚC A. 324

     Hương ước của l. Ngọc Đồng, h. Kim Động, t. Hưng Yên, do Trần Đình Nguyên, Nguyễn Tín Thi, Ngô Văn Đạo biên tập năm 1913 : 380

2345. NGỌC HOA CỔ TÍCH TRUYỆN AB 60

     Truyện thơ Nôm kể lại mối tình chung thủy giữa Phạm Tải và Ngọc Hoa: Ngọc Hoa là con gái một nhà giàu họ Trần. Nàng thông minh lại có nhan sắc, mới 13 tuổi đã có nhiều nơi quyền qúi đến cầu hôn, nhưng nàng đều không ưng. Một hôm Phạm Tải, một học trò nghèo đến nhà nàng xin ăn. Thấy chàng có tài, có đức, nàng đem lòng yêu dấu và sau đó lấy làm chồng. Biện Điền vì không cưới được Ngọc Hoa, đã tạc tượng nàng dâng cho Trang Vương. Ngọc Hoa bị bắt vào triều. Trang Vương tìm mọi cách mà vẫn không chinh phục nổi trái tim của nàng, bèn chuyển sang giết Phạm Tải. Ngọc Hoa tức giận tự rạch mặt mình cho xấu đi, nhưng Trang Vương vẫn một mực đeo đẳng. Nàng thấy vậy, đành vờ chấp thuận, hẹn ba năm sau mãn tang chồng sẽ lấy hắn. Đến ngày mãn tang, nàng tự vẫn để giữ lòng chung thủy với chồng. Dưới âm phủ, Phạm Tải cùng Ngọc Hoa làm đơn kiện lên Diêm Vương, tố cáo tội ác của Trang Vương. Kết quả Trang Vương bị ném vạc dầu, Phạm Tải và Ngọc Hoa đều được trở về dương thế và chàng đã trị vì đất nước thay Trang Vương.   

                                                    : 382

2347. NGỌC KIỀU LÊ TÂN TRUYỆN

VN.b 76

     Truyện thơ Nôm 6-8, kể lại mối tình chung thủy giữa Tô Hữu Bạch và Hồng Ngọc. Hồng Ngọc là cô gái vừa có nhan sắc, vừa giỏi văn thơ. Quan Ngự sử Dương Đình Chiếu dạm hỏi nàng cho con trai mình, nhưng bị khước từ, đã tiến cử Bạch Thái Huyền là cha của Hồng Ngọc đi sứ đất giặc. Bạch công phải gửi Hồng Ngọc cho bạn là Ngô Khuê. Vẫn bị Dương Đình chiếu tìm cách ép duyên. Ngô Khuê phải đưa gia quyến cùng Hồng Ngọc về quê trốn tránh. Thời gian ở gửi nhà họ Ngô, Hồng Ngọc đổi tên là Vô Kiều, phỏng theo tên người con gái xấu xí họ Ngô là Vô Diễm. Một lần đi thăm chùa, gặp nho sinh Tô Hữu Bạch, vừa đẹp trai vừa giỏi thơ văn, Ngô Khuê muốn gả Hồng Ngọc cho Tô. Nhưng khi đến xem mặt, chàng Tô lại gặp con gái Ngô Khuê xấu xí. Chàng từ chối.

     Trên đường đi Tràng An, Tô gặp Yên Tố, người hầu gái của Hồng Ngọc. Nhờ Yên Tố giúp đỡ, Tô và Hồng Ngọc đã cùng nhau hẹn ước kết duyên. Một buổi ngao du, Tô gặp Lư Mộng Lê đang cải trang nam giới, hai người rất ý hợp tâm đầu. Mộng Lê hứa gả “em gái” cho Tô. Sau đó Tô thi đỗ TS, bị Dương Tuần Phủ ép gả  em gái cho, chàng phải đổi tên là Liễu Tú tài để trốn, gặp Bạch công lúc này đổi tên là Hoàng Phủ đang đi tìm mình. Thấy Liễu tài hoa, lại thấy việc tìm Tô là mong manh, Bạch công nảy ý gả Hồng Ngọc và cháu là Lư Mộng Lê cho Liễu. Liễu từ chối. Giữa lúc Hồng Ngọc và Mộng Lê đang đau khổ vì ý định của Bạch công thì Ngô Khuê đến. Một cuộc tranh cãi quyết liệt giữa Bạch công và Ngô Khuê: Một bên ca ngợi chàng Tô, một bên ca ngợi chàng Liễu. Đúng lúc ấy quan Hàn lâm Tô Hữu Bạch xuất hiện trong vai Tú tài Liễu. Thế là mọi việc đã sáng tỏ. Mọi người vui vẻ làm lễ cưới cho Tô Hữu Bạch với cả ba cô gái: Hồng Ngọc (tức Vô Kiều), Mộng Lê và Yên Tố. : 382

2351. NGỌC THAN XÃ NGUYỄN THỊ TỐN CHÚC TỪ               VHv. 2644

     Di chúc của Nguyễn Thị Tốn ở x. Ngọc Than để lại cho 2 con trai là Đỗ Lai Thi và Đỗ Lai Tuyên, do Đỗ Lai Triết soạn năm 1862: 385

2357. NGÔ CÔNG HUẤN TỬ VĂN. A. 2219

     Bài thơ dài, mỗi câu 5 chữ của Ngô Duy Viên, khuyên con gái chăm học, sửa mình, giữ nết thảo hiền, không ham danh lợi...         : 387

2368. NGÔ TỘC  TRUY VIỄN ĐÀN PHẢ A.647

     Trần Danh Án, Phạm Giáp Thiên (Giao Khê bá), Vũ Huy Tấn (Dinh Trạch hầu) viết tựa và tán; Vũ Trinh (Lan Trì bá) viết bài thuyết; Nguyễn Cần Mưu (Vị Khê bá) viết đề dẫn; Lê Lương Thận hiệu Hi Triết viết bạt vào các năm 1791, 1792.                                        : 397

2369. NGÔ VĂN LỘC NGHIÊM ĐƯỜNG THI TẬP.         VHv. 2463

     Thơ văn của thân sinh Ngô Văn Lộc.     : 398

2405. NGUYỄN ĐÌNH TỘC GIA PHẢ THẾ HỆ TẬP  VHv. 2428

     Cháu 16 đời là Nguyễn Đình Hội biên soạn năm 1929, Trần Văn Phùng sao lại năm 1962.

Gia phả họ Nguyễn Đình: thủy tổ Nguyễn Nhữ Soạn  (con Nguyễn Phi Khanh, em Nguyễn Trãi), quê l. Nhị Khê, h. Thượng Phúc, sau nhập tịch quê ngoại ở x. Cừ Nội, Thanh Hóa, mộ dân khai hoang lập ra ấp Mê Thôn. Nguyễn Nhữ Soạn cùng Nguyễn Trãi theo giúp Lê Lợi, được phong Tuy Quận công.

2424. NGUYỄN THỊ GIA PHẢ (ĐÔNG ĐỒ)

A. 798

     Gia phả họ Nguyễn, thủy tổ là Hải Phong ở x. Đông Đồ, h. Đông Anh. Họ này là tông thất nhà Mạc, sống ở Hải Dương, sau đổi thành họ Nguyễn, di cư đến x. Tào Mai, h. Kim Hoa. Đến đời Phúc Hiền, dời đến x. An Hòa, h. Yên Lãng, cuối cùng dời đến Đông Đồ.

     Phả do Nguyễn Huy soạn, Ngô Đức Phủ viết tựa năm 1873.                              : 428

2428. NGUYỄN THỊ TÂY SƠN KÍ   A. 3138

     Có bài kí về lịch sử thành Đồ Bàn (tr. 92-99)

                                                      : 430.

2430. NGUYỄN THỊ THẾ PHẢ THỰC LỤC

A. 2258

     Gia phả họ Nguyễn từ năm Cảnh Trị 4 (1666) đến năm Thành Thái 9 (1897). Họ này trước là họ Đào, ở x. Phù Đỗng, h. Tiên Du, sau di cư đến Đông Ngạc, Từ Liêm và đổi thành họ Nguyễn là họ ngoại.                                 : 431

2448. NGUYỄN TỘC THẾ PHẢ (HƯƠNG KHÊ)          VHv.  1753

     Hành trạng Nguyễn Hễ, hiệu Thanh Khê, người x. Hương Khê (trước là Lan Khê), h. Tĩnh Gia, Thanh hóa. Nguyễn Hễ vốn họ Hà (Hà Hiệu), nguyên quán x. Vĩnh Khê, Nông Cống, làm con nuôi họ Nguyễn, đỗ TS giúp Lê Chiêu Thống và Gia Long chống Tây Sơn.          : 441   

2469. NGƯ PHONG TƯỚNG CÔNG TRUYỆN KÍ.                                VHv. 2072

     Tiểu sử, sự nghiệp Nguyễn Quang Bích, người th. Nhất, x. Trình Phố, tg. An Bồi, h. Trực Định, ph. Kiến Xương, đỗ TS năm 1869. Bài tưạ do tác giả viết năm Hàm Nghi thứ nhất (1885), Ngô Đức Dung, hiệu Tùng Lĩnh chép tặng Long Điền tiên sinh năm 1946.                         : 452   

2476. NGỰ CHẾ NGỌC PHẢ KÍ.      VNv. 241

     Gia phả nhà Lê, thủy tổ là Lê Hối, quán l. Như Áng, h. Lương Sơn, t. Thanh Hóa. Lê Lợi là đời thứ 4, khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh, lên làm vua xưng là Thái Cao Hoàng Đế, truyền đến Lê Xuân (Cung Đế), bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi. Sau Lê Ninh (Trang tông) diệt nhà Mạc, khôi phục cơ nghiệp nhà Lê, truyền đến Chiêu Thống là đời chót. Gia phả các chi.

     Nguyễn Hài và một số đình thần triều Lê biên tập năm Cảnh Hưng 41 (1780), Đặng Xuân Khanh chép lại năm 1962.                        : 456               

2510. NHÂN ÁI THẦN TỪ LỤC    A. 710

     Sự tích thần Đỗ Kính Tu, thờ ở đền th. Nhân Ái, x. Vân Canh, h. Từ Liêm, thần là người bản thôn, làm quan triều Lí, bị vu oan là phản nghịch nên tự tử.                                     : 473

2523. NHÂN THẾ TU TRI

     Có 6 bản in, do Cao Xuân Dục biên tập, Ngô Huệ Liên và Trần Sĩ Trác kiểm hiệu. Lê Đình Luyện, Nguyễn Thiện Hành hiệu chỉnh. Quốc sử quán in 1902.                                       : 478

1548. NHỊ ĐỘ MAI DIỄN CA. VNb. 28.

     Diễn Nôm thể 6-8 truyện Nhị Độ Mai: Mai công cha Mai Lương Ngọc bị gian thần Lư Kỉ

vu oan giết hại. Lương Ngọc phải chạy trốn. Trần Hạnh Nguyên, vợ chưa cưới của Lương Ngọc cũng bị gian thần lập kế đưa đi cống Hồ. Hạnh Nguyên nhảy xuống sông tự tử, được Chiêu Quân hiển linh cứu sống. Lương Ngọc thay tên đổi họ đi thi, đỗ TN rửa được oan cho cha và cùng Hạnh Nguyên sum họp.         : 493

2552 NHỊ KHÊ NGUYỄN THỊ GIA PHẢ A.944

     Gia phả họ Nguyễn ở Nhị Khê. Ông tổ thứ nhất là Phi Phượng, hiệu Phúc Chính, nguyên quán sở x. Chi Ngại, h. Phượng Sơn (Phượng Nhỡn). Cháu 5 đời là Nguyễn Phi Khanh: 496                                                      

2598.  ÔN DỊCH                               VHv. 2087 

     Ngô Hữu Tính và Trệ Giang Di Trai, Trinh Mông Dưỡng Phủ biên tập.             : 519

2604. PHẠM CÔNG TÂN TRUYỆN  AB. 14

     Phạm Công nhà nghèo, mồ côi cha từ nhỏ, dắt mẹ đi ăn xin. Cúc Hoa con gái quan phủ đem lòng yêu, hai người lấy nhau. Phạm Công sau thi đỗ Trạng nguyên, vua định gả công chúa cho, nhưng chàng từ chối vì đã có vợ. Vua giận bắt giam. Khi được thả về, Phạm Công cùng vợ sum họp được ít lâu thì Cúc Hoa mất để lại 2  con  nhỏ. Phạm Công rất thương xót. Giặc gĩa nổi lên, vua sai Phạm Công đi đánh dẹp, chàng mang hài cốt vợ và dắt 2 con cùng ra trận. Tướng giặc động lòng lui quân. Sau Phạm Công lấy Tào Thị làm vợ kế. Tào Thị là người lẳng lơ độc ác, rất tệ bạc với con chồng, khiến chàng càng thương nhớ Cúc Hoa và đã xin từ chức, xuống âm phủ tìm người vợ trước. Trải qua bao gian nan thử thách, cuối cùng vợ chồng con cái được sum vầy.                                      : 523    

2619. PHẠM TỘC GIA PHẢ (KÍNH CHỦ)

A. 2420

     Gia phả họ Phạm ở l. Kính Chủ (năm Minh Mạng 10 đổi thành x. Dương Nham), h. Hiệp Sơn, ph. Kinh Môn, Hải Dương. Họ này vốn họ Chúc ở t. Quảng Đông, TQ, đến đời Chúc Đức Công di cư sang VN, đến đời Trần Nhân tông đổi thành họ Phạm. Những người hiển đạt: Phạm Sư Mạnh, Phạm Gia Mô, Phạm Tiến.: 531

 

2642. TRUYỆN PHAN TRẦN    AB. 37

     Soạn theo thể 6-8: Vào thời Tỉnh Khang nhà Tống (1126), có 2 người bạn thân, một họ Phan, một họ Trần. Vợ 2 người đều đang có mang. Họ Phan và họ Trần hẹn trước với nhau, nếu một bên sinh con trai, một bên sinh con gái, thì sẽ gả con cho nhau.

     Sau họ Phan sinh con trai là Tất Chánh, họ Trần sinh con gái là Kiều Liên.

     Được cha mẹ dạy dỗ chu đáo, Tất Chánh học hành chăm chỉ, thi Hương đỗ Thủ khoa, nhưng vào thi Hội bị hỏng. Xấu hổ, chàng không trở về nhà nữa, ở lại kinh đô tìm nơi trọ học, quyết chờ khoa sau. Cùng thời gian này, cha Kiều Liên mất, quê nhà lại có giặc, hai mẹ con Kiều Liên chạy nạn, thất lạc nhau. Kiều Liên đến tu ở chùa Kim Lăng, nơi bà cô của Tất Chánh trụ trì. Một hôm Tất Chánh đến thăm cô, gặp Kiều Liên, chàng phải lòng và mắc bệnh tương tư. Nể lời sư cô, Kiều Liên tới thăm Tất Chánh. Qua câu chuyện họ nhận ra rằng, chính họ có duyên đính ước từ xưa. Từ đấy họ nhiều lần bí mật đến với nhau.

     Trở lại kinh thi Hội, Tất Chánh đỗ TH. Chàng xin sư cô cho cưới Kiều Liên, hai vợ chồng cùng nhau về quê Tất Chánh. Tới nhà, Kiều Liên bất ngờ gặp lại mẹ. Thế là hai họ Phan Trần sum họp hạnh phúc.               : 544

2691. PHÙ DUNG TÂN TRUYỆN   AB. 68

     Truyện thơ Nôm về bức tranh Phù Dung, thể 6-8: Thời vua Nguyên Thuận Đế, có Thôi Tuấn Thần, con nhà gia thế, học giỏi, mà viết chữ và vẽ tranh cũng rất đẹp. Vợ là Vương Thị có nhan sắc và có tài văn thơ. Hai vợ chồng Tuấn Thần rất thích bức tranh Phù Dung do chính tay Tuấn Thần vẽ. Do được ẩm bổ, Tuấn Thần cùng vợ thuê thuyền đi nhận chức Huyện úy ở châu Vĩnh Gia. Dọc đường bị chủ thuyền là A Tú, thấy vợ chồng Tuấn Thần giàu có, đã tìm cách hãm hại. Tuấn Thần phải nhảy xuống sông, còn vợ bị ép nài lấy con trai hắn. Sau Vương Thị tìm cách trốn được lên bờ, vào tu ở một ngôi chùa, lấy pháp danh là Tuệ Viên. Một hôm có khách đến lễ và tặng chùa bức tranh Phù Dung. Tuệ Viên nhận ra đó là thủ bút của Tuấn Thần khi trước. Rồi nhân xúc động, nàng đề luôn vào bức tranh một bài thơ tứ tuyệt nói lên hi vọng được giải oan cho chồng. Sau đó Cao Nạp Lễ là viên quan Ngự sử nghỉ hưu đến chơi chùa, thấy tranh đẹp thơ hay đã mua về nhà treo chơi. Về phía Tuấn Thần, sau khi thoát khỏi tay A Tú, chàng đã phải đi viết thuê, vẽ mướn để kiếm sống và cuối cùng vào làm gia sư cho Cao Nạp Lễ. Nhìn thấy bức tranh cũ của mình, lại nhận ra bài thơ và thủ bút của vợ mình trên bức tranh, Tuấn Thần kêu xin quan Ngự sử tra xét cho vụ án. Nhờ đó nỗi oan của Tuấn Thần được giải, bọn A Tú bị xử tử. Vợ chồng Tuấn Thần đoàn tụ với nhau.                                                      : 567

2763. PHƯƠNG HOA TÂN TRUYỆN. AN. 86

     Truyện Nôm Phương Hoa thể 6-8: Phương Hoa là con gái quan Ngự sử Trần Diện, Cảnh Yên là con trai quan Thượng thư họ Trương. Gia thần Tào Trung Úy thấy Phương Hoa là người tài sắc bèn đến hỏi làm vợ. Bị từ chối, nên mạo chiếu chỉ nhà vua khép Trương công vào tội vong thần mại quốc, giết ông rồi cướp hết tài sản. Hai anh em Cảnh Tỉnh và Cảnh Yên đưa mẹ chạy về Thạch Thành lánh nạn. Một tháng sau, vợ Cảnh Tỉnh sinh Tiểu Thanh rồi lâm bệnh chết. Bảy năm sau tới kì đại khoa, mẹ con bà cháu họ Trương  trở về quê dò tin tức. Họ nghỉ ở Lôi Dương. Lúc này Phương Hoa vẫn một lòng chờ Cảnh Yên, tình cờ nàng gặp Tiểu Thanh rồi đưa về nhà làm con nuôi, nhờ đấy nàng biết được tình cảnh nhà họ Trương. Nàng đã tìm mọi cách giúp đỡ họ. Một hôm nàng hẹn Cảnh Yên vào lúc canh ba tới nhận quần áo tiền bạc ở góc vườn hoa. Không may bị tên gian Hồ Nghi biết chuyện, hắn đã lén tới chỗ hẹn, giết chết người hầu của Phương Hoa, cướp của. Cảnh Yên tới, vô tình dẫm phải người chết, máu vương khắp người. Chàng bị Trần Ngự sử bắt tống ngục. Quá đau xót, Trương phu nhân qua đời. Phương Hoa thay Cảnh Yên lo việc chôn cất chu đáo, xong xuôi nàng xin cha mẹ cho lên kinh bán hàng, kén chồng. Nhưng sau khi lên kinh, nàng đã ngày đêm ôn luyện văn chương và lấy tên là Cảnh Yên để đi thi. Kết quả nàng đỗ TS. Giữa triều đình, nàng bỏ hết mũ áo cân đai, tâu với vua nỗi oan của gia đình họ Trương và của Cảnh Yên. Tào Trung Úy bị tru di tam tộc. Hồ Nghi bị chém đầu. Cảnh Yên được xét đỗ TS đặc cách cùng Phương Hoa. Hai người chính thức lấy nhau và dẫn nhau về quê.   : 605

2776. QUAN ÂM CHÍNH VĂN TÂN TRUYỆN                  AB. 638

     Truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính, thể 6-8: Thị Kính con gái Mãng Ông, người nước Cao Ly, nhà nghèo, lấy chồng học trò là Sùng Thiện Sĩ. Một hôm học khuya, Thiện Sĩ ngủ thiếp đi bên bàn học. Ngồi may vá cạnh chồng, thấy chồng có chiếc râu mọc ngược, Thị Kính cho là điềm không hay. Sẵn dao trong tay, Thị Kính toan cắt bỏ chiếc râu đó đi. Bỗng Thiện Sĩ giật mình tỉnh dậy, cho là vợ định hại mình, bèn hô hoán lên, thế là Thị Kính bị gia đình nhà chồng đuổi ra khỏi nhà. Bị oan ức, Thị Kính cải trang thành con trai, đi tu ở chùa Văn Tự, pháp danh Kính Tâm. Trong vùng có Thị Màu, con gái một nhà giàu, tính lẳng lơ, lên chùa thấy chú tiểu Kính Tâm, Màu đem lòng say đắm. Trước sự thờ ơ của chú tiểu, Màu không nén được lòng ham muốn, bèn về nhà ăn nằm với người ở trai trong nhà và có mang. Bị hào lý trong làng tra hỏi, Màu đổ tội cho Kính Tâm, vì thế Kính Tâm bị sư cụ đuổi ra ra ở ngoài Tam quan. Ít lâu sau, Màu sinh con trai và đem vứt ra ngoài Tam quan cho Kính Tâm. Thương trẻ sơ sinh, Kính Tâm đã ngày này qua ngày khác đi xin sữa, xin cơn nuôi nấng đứa trẻ. Ba năm ròng như thế, phần vì vất vả, phần vì ưu phiền, oan ức, Kính Tâm đã kiệt sức và chết. Khi khâm liệm Kính Tâm, mọi người mới biết Kính Tâm là phụ nữ. Nỗi oan của nàng từ ấy được giải tỏ. Nàng siêu thăng thành Phật Quan Âm.      : 614

2928. SÁCH MẠNH HỌC BẬC CAO TRUNG HỌC GIÁO KHOA                        AB. 290

     Ngô Giáp Đậu, Đốc học Nam Định diễn Nôm năm 1913.                                       : 691

2973. SƠ KÍNH TÂN TRANG       A. 1390

     Truyện thơ Nôm gồm 1482 câu kể lại mối tình của Phạm Kim và Trương Quỳnh Thư: một người họ Phạm ở Từ Sơn, Kinh Bắc và một người họ Trương ở Kiến Xương, Sơn Nam quen thân nhau, hẹn gả con cho nhau, nếu một bên sinh trai, một bên sinh gái; lại trao gương vàng lược ngọc cho nhau để làm tin. Sau Phạm công sinh con trai, đặt tên là Phạm Kim. Gặp quốc biến, Phạm công tổ chức cần vương, nhưng thất bại. Phạm Kim định tiếp tục sự nghiệp của cha, cũng không thành, đành rong chơi đây đó cho khuây khỏa nỗi lòng. Ở Thú Hoa Dương, chàng gặp Quỳnh Thư, hai người yêu nhau say đắm. Nhưng rồi Quỳnh Thư bị ép gả cho một viên quan Đô đốc ở Kinh kì. Phạm Kim được tin này, đến ngay với người yêu, nhưng cả 2 đều thấy bế tắc. Trương Quỳnh Thư tự tử, còn Phạm Kim bỏ đi tu.

     Sau khi chết, Quỳnh Thư lại đầu thai  vào nhà họ Trương trở thành Thụy Châu. Nàng cải dạng làm trai, giao du rất rộng. Cuối cùng gặp Phạm Kim, họ nhận ra nhau  là có duyên gương lược từ xưa và được Trương công cho phép lấy nhau.                                                   : 712

2983. ĐẶNG MÔN THẾ PHẢ              A. 1063

     Gia phả họ Đặng ở l. An Trung, trấn Sơn Nam: thủy tổ là Nguyễn Gia Doanh, đến đời Nguyễn Đăng mới đổi theo họ ngoại là họ Đặng. Họ này có nhiều người đỗ đạt như Đình Tướng đỗ TS, Đình Trân đỗ CN.

     Do Lê Như Mai ghi năm Duy Tân (1915) : 716.

 

                             HẾT TẬP HAI

3061. TÁI SINH DUYÊN TRUYỆN   VNb .73

     Truyện thơ Nôm, kể lại mối tình giữa Hoàng Phủ Thiếu Hoa với Mạnh Lệ Quân: Thiếu Hoa đã đính hôn với Mạnh Lệ Quân. Lưu Khuê Bích là con trai một nịnh thần không lấy được Mạnh Lệ Quân đã tìm cách làm cho cha con Thiếu Hoa bị tù tội để ép duyên. Mạnh Lệ Quân phải bỏ trốn, giả trai,  lấy tên là Lịch Quân Ngọc, rồi thi đỗ Tam nguyên, được làm Tể tướng. Trong nước có giặc quấy nhiễu, quan Trạng tân khoa Hoàng Phủ Thiếu Hoa được cử đi chiêu an và đánh Cao Li. Chiến thắng trở về, Thiếu Hoa được phong Vương, vua ép chàng lấy Lưu Yến Ngọc. Chàng từ chối và có ý chờ Mạnh Lệ Quân. Thấy chàng thực bụng yêu mình, Mạnh Lệ Quân xin vua tha tội giả trai, và được phong là Quận chúa. Hai người sum họp cùng nhau.

     Chu Ngọc Chi dịch theo nguyên bản chữ Hán, in năm 1928.                                   :  7/III

3108. TẢN VIÊN SƠN NGỌC PHẢ A. 1547

     Đời Hùng Vương thứ 18 ở động Lăng Sương, xứ Sơn Tây có một người tên là Nguyễn Tuấn (sau đổi tên là Nguyễn Huệ, Nguyễn Chiêu). Sau khi cha mất, Tuấn cùng mẹ lên núi Tản Viên ở, gặp được Sơn thần cho cây gậy thần và được Thái tử ở long cung cho cuốn sách ước, nhờ vậy mà Tuấn cứu giúp được nhiều người, được dân chúng tôn là Sơn Tinh. Sơn Tinh về sau lấy Mị Nương, bị Thủy Tinh thù oán, dâng nước lên gây ra lụt lội, Sơn Tinh từng giúp Trưng Vương đánh bại Tô Định.      :32/III

3203. TÂN TẬP HOAN CHÂU THẠCH HÀ TRẢO NHA NGÔ THỊ TRUỀN GIA TẬP LỤC.             A. 3077

     Do Ngô Phúc Lâm biên tập năm Cảnh Hưng 7 (1746), Ngô Phúc Trường tục biên năm Minh Mệnh 18 (1837).                                      : 75/III

3204. TÂN TẬP NGHỆ AN THIÊN LỘC PHÙ LƯU TRƯỜNG NGUYỄN THỊ ĐẠI TÔNG TỔNG KÍ.                                A. 3161

      Gia phả họ Nguyễn ở Phù Lưu Trường, h. Thiên Lộc, từ Nguyễn Văn Giai đỗ Tam nguyên đời Lê Quang Hưng trở xuống. Nguyễn Đông Dương biên tập năm Đồng Khánh (1888)   : 76

3299. THÁI LẠC TRƯỜNG VĂN SÁCH

VHv. 461

     Những bài văn sách do Ngô Tiên Sinh ở Trường Thái Lạc soạn năm Tự Đức 12 (1859): 120.

3318. THANH BÌNH CA ĐIỆU  VHv. 2080

     Bài ca chữ Hán ca ngợi cuộc đời của Phạm Văn Nghị: ông quê l. Tam Đăng, ph. Nghĩa Hưng, đỗ HG dưới triều Nguyễn (1838). Khi Pháp sang xâm lược, Phạm Văn Nghị mộ quân chống lại, vì lực lượng mỏng, không ngăn được giặc, hai ba lần tự tử đều được cứu sống. Sau ông về sống ẩn dật tại hang núi Trường Yên, tự đặt hiệu là Liên Hoa Động Chủ.

     Do Ngô Mạnh Cầu soạn năm Tự Đức 27 (1874), Phạm Văn Nghị duyệt. : 128

3321. THANH CHƯƠNG HUYỆN CHÍ

VHv. 2557

     Đặng Công Luận chép vào năm 1963 theo bản chính. Ngô Ngọc Thiên hiệu đính.   : 130.

3369. THÁNH TÍCH THỰC LỤC  A. 1067

     Sự tích 4 vị thần: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện: nhà sư Khâu Đà La, người nước Thiên Trúc, một lần đi vân du, tới Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), Kinh thành của Sĩ Vương, nơi có nhiều người tu hành và sùng kính đạo Phật.

     Nhà sư được mời về ở nhà một người tu hành, trong nhà có cô gái  hằng ngày rất chăm chỉ và thành kính dâng hương hoa cúng Phật. Nhà sư bèn đặt tên cho cô là Man Nương. Khi từ biệt gia đình Man Nương để vào núi, nhà sư nói rằng: 3 năm sau vùng này sẽ có hạn lớn. Rồi nhà sư lấy chiếc gậy của mình cắm xuống một nơi trong vườn, bảo gia đình Man Nương đào một cái giếng ở chỗ đó để phòng hạn lớn. Được ít lâu, bỗng nhiên Man Nương có mang, qua 14 tháng sinh một bé gái. Gia đình Man Nương mang bé vào núi giao cho Khâu Đà La. Nhà sư đặt tên cho bé là Đà La Tử, rồi hỏi các cây cổ thụ, muốn nhờ cây nuôi giữ hộ. Có một cây tự tách thân ra làm đôi, đón nhận bé gái vào lòng, rồi khép kín lại. Đúng như lời sư nói, 3 năm sau dân thành Luy Lâu gặp hạn lớn, các nguồn nước đều khô cạn, phải đến xin nước giếng nhà Man Nương. Vua biết chuyện, bảo Man Nương kể hết đầu đuôi, rồi sai nàng vào núi tìm nhà sư giúp dân trong thành cứu hạn. Nghe Man Nương truyền đạt lệnh vua, nhà sư ngồi lặng gây lát, bỗng mây đen kéo tới mù mịt, mưa lớn trút xuống. Gió to nhổ bật gốc cây cổ thụ trong đó có đứa bé. Cây cổ thụ theo nguồn lũ lớn trôi về bên thành Luy Lâu. Thấy có tiếng nhạc và vừng sáng tỏa ra từ thân cây, Sĩ Vương sai cưa thân cây ra làm 4 đoạn, tạc thành 4 pho tượng để thờ. Các pho tượng này rất thiêng. Mỗi khi vua sai làm lễ cầu mưa thì lập tức mây đen kéo đến, mưa đổ xuống, lại có sấm và chớp. Vì vậy Sĩ Vương đặt tên cho 4 pho tượng là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện.

     Chép năm Thành Thái Đ. Dậu (1897) : 153

3382. THẨM GIA THẾ PHẢ  A. 758

     Gia phả họ Thẩm ở l. Thổ Linh, h. Gia Lâm: họ này vốn ở TQ, sang VN vào cuối thời Minh.

     Do Thẩm Đức Hoằng đề tưạ và bổ sung năm Minh Mệnh 13 (1832), sao lại năm 1840   : 162

3510. THIÊN HẠ BẢN ĐỒ TỔNG MỤC LỤC ĐẠI TOÀN.              A. 1362

     Tổng mục lục bản đồ VN thời Lê gồm 13 thừa tuyên, 53 phủ, 161 huyện, 9020 xã, 49 châu, 3 làng, 125 phường, 223 thôn, 529 trang, 390 động, 484 sách, 54 sở, 55 trại, 20 vạn, 16 nguyên và 3 tuần.                                     : 223

3537. TIÊN THIÊN KHẢO TRUYỆN  A. 3094

     Khảo về công chúa Liễu Hạnh: bà là con gái Lê Đức Chính và Trần Thị Phúc ở th. An Thái, x. Vân Cát, h. Vụ Bản, t. Nam Định, là một trong số 4 người bất tử (Liễu Hạnh, Tiên Dung, Chử Đồng Tử và Phù Đổng Thiên Vương) : 238

3575. THỊNH QUANG ĐỖ TỘC THẾ THỨ PHẢ KÍ.               A. 799

     Gia phả họ Đỗ ở l. Thịnh Quang, tg Hạ, h. Vĩnh Thuận, ph. Hoài Đức. Họ này vốn là họ Dương ở x. Lạc Đạo, trấn Kinh Bắc.

     Do Đỗ Hi biên tập, Đỗ Đức Liêm, Đỗ Đức Trụ hiệu đính năm Cảnh Hưng 3 (1742). Dương Lập soạn bài tựa năm 1889.                      : 255

3578. THỌ MAI GIA LỄ                VHb. 117...

     Do Hồ Gia Tân hiệu Thọ  Mai soạn. Có tất cả 21 bản in từ năm Tự Đức 4 (1851) cho đến Bảo Đại 14 (1939).                                 : 257

3634. THỦY SƠN HÀNH TẠP SAO   A. 1992

     122 bài thơ, 8 bài văn sáng tác trong dịp đi công cán ở Ninh Bình.

     Ngô Đôn soạn, Nguyễn An Chi phẩm bình. Chép năm Tự Đức 34 (1881).                  : 282

3644. THỤY PHƯƠNG THẦN TỪ  VHv. 2619

     Sự tích Lí Ông Trọng.

     Đỗ Huy Tăng sao lục, Ngô Ngọc Can kiểm duyệt                                                : 287

3802. TỐI LINH HOÀNG ĐẾ TÔN THẦN NGỌC PHẢ LỤC.                            A. 1033

     Thần sắc của x. Độc Bộ, ph. Nghĩa Hưng, t. Nam Định về Triệu Quang Phục: Triệu Quang Phục có nỏ thần, đánh được nhà Lương, xưng đế, tức là Triệu Việt Vương. Lí Phật Tử chống lại Triệu Việt Vương  không được, dùng mưu cho con là Nhã Lang cầu hôn với Cảo Nương (con gái Triệu Việt Vương) rồi ăn cắp nỏ thần và một lần nữa đem quân đánh Quang Phục. Quang Phục thua trận, chạy ra cử Đại Nha và chết ở đấy.

     Do Nguyễn Bính, Hàn lâm viện, Đông các đại học sĩ soạn. Xã Độc Bộ chép lại năm Tự Đức 17 (1864).                                    : 358

3817.TỐNG SỬ LUẬN.    VHv. 94

     Lược sử triều Tống (từ Tống Thái tổ đến Tống Thần tông)...

     Ngô Thế Vinh biên tập và viết bài chí.

3821. TỐNG TRÂN TÂN TRUYỆN  AB. 217

     Truyện Tống Trân-Cúc Hoa, thể 6-8: Tống Trân người h. Phù Hoa, t. Hưng Yên, nhà nghèo, có hiếu, được con gái phú ông đem lòng yêu và nuôi cho ăn học. Tống Trân đi thi đỗ TN, vua định gả công chúa cho, nhưng chàng từ chối, bị bắt đi sứ nước Tần 10 năm. Vua Tần lại ép gả công chúa cho chàng. Ở nhà phú ông ép gả Cúc Hoa cho Đình trưởng. Đúng ngày cưới, Tống Trân trở về được cùng Cúc Hoa đoàn tụ.

                                                            : 368

3879. TRÊ CÓC TRUYỆN.     VNb. 78

     Truyện thơ Nôm 6-8 kể lại vụ án Trê và Cóc: Cóc ra bờ ao đẻ rồi về. Trê thấy đàn nòng nọc giống mình liền đem về nuôi. Cóc ra thăm con, bị Trê quát mắng. Cóc về phát đơn kiện. Trê bị tống giam và tra khảo. Vợ Trê chạy vạy đưa lễ lên quan cho người về điều tra, thấy đàn con giống Trê, liền cho tạm giam Cóc lại. Vợ Cóc được Nhái Bén  khuyên cứ để nòng nọc cho Trê nuôi, đến khi đứt đuôi, chúng sẽ tìm về với bố mẹ chúng. Sự việc diễn ra đúng như lời Nhái Bén nói. Cóc dẫn đàn con lên quan kiện Trê. Bấy giờ quan mới vỡ lẽ. Cóc được kiện, còn Trê bị đày đi xa.                                               : 396

3904. TRÍCH DIỄM THI TẬP  VHv. 2573

     Hoàng Đức Lương  biên tập và đề tựa năm Hồng Đức  28 (1497), Ngô Ngọc Can hiệu đính

                                                          : 407

3910. TRINH THỬ TRUYỆN.             VNb. 79

     Truyện thơ Nôm thể 6-8: một con Chuột Trắng góa chồng, đi kiếm ăn đêm, nghe tiếng chó sủa, chạy vào hang một con Chuột Đực ẩn nấp. Chuột Đực gà gẫm và đem mồi giàu sang ra nhử, nhưng không lay chuyển được lòng kiên trinh của Chuột Trắng. Vừa ra đến cửa, Chột Trắng gặp Chuột Cái là vợ của Chuột Đực đang về hang. Máu ghen nổi lên, Chuột Cái đay nghiến chồng và đến nhà xỉ vả Chuột Trắng. Mèo ở đâu chợt đến, Chuột Trắng chạy thoát

 vào cong gạo, ccòn Chuột Cái sa xuống ao. May có Hồ Sinh đuổi mèo đi, vớt Chuột Cái lên, minh oan cho Chuột Trắng.               : 410

3929. TRÚC ĐƯỜNG CHU DỊCH TÙY BÚT.

A. 1153.

     Ngô Thế Vinh giới thiệu sách Chu Dịch theo lối vấn đáp.                                               : 418

3930. TRÚC ĐƯỜNG PHÚ TUYỂN. A. 128

     Những bài phú của trường Ngô Thế Vinh, đề tài lấy trong Kinh, Truyện và cổ sử của TQ.

     Ngô Thế Vinh soạn, Nguyễn Tuân Nhất biên tập năm Tự Đức Ất Hợi (1875). Có tất cả 15 bản in.                                                            : 418

3931. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN TẬP.VHv.143

     Ngô Thế Vinh soạn, gồm: trướng, đối, liễn, hạ, tấu, biểu, sớ, tụng.                            : 418

3932. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN TẬP TÙY BÚT. VHv. 2329.

     Thủ bút của Ngô Lập Chi (chắt nội Ngô Thế Vinh) chép lại 3 bài thơ của Ngô Thế Vinh từ Trúc Đường thị văn tập.                           : 419

3933. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN THẢO.

VHv. 2352               VHv. 2351

     Văn thơ Ngô Thế Vinh gồm nhiều thể loại, cùng một số tác phẩm của học trò.           : 419

3935. TRÚC ĐƯỜNG TIÊN SINH THI TẬP PHỤ TẠP LIÊN TRƯỚNG.   A. 1641

     Thơ Ngô Thế Vinh: đề tài lấy từ các câu thơ hoặc văn trong sách cổ TQ.                    : 420

3936. TRÚC ĐƯỜNG TRƯỜNG VĂN SÁCH.

VHv 303

     Hơn 130 bài văn sách của học trò trường Ngô Thế Vinh : đề taif lấy từ Kinh, Truyện hoặc cổ sử TQ.

     Hà Nguyên Thung sao chép.                : 420

3937. TRÚC ĐƯỜNG TÙY BÚT.  VHv. 150

     Những đoạn do Ngô Thế Vinh chép từ các sách cổ TQ: Sơn hải kinh, Thượng thư, Hoài Nam Tử, Lễ Kí, Mạnh Tử, Trang Tử, Lã Thị Xuân Thu...  Sau mỗi đoạn chép thường có lời diễn giảng, bình luận, chú thích.              : 421

3940. TRÚC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH. A. 460,   A. 2181

     Những tư tưởng chủ yếu của phái Trúc Lâm. Một số bài kệ. Tiểu sử của ba vị tổ phái Thiền Tông Trúc Lâm: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang.

     Ngô Thì Nhậm soạn. Phan Huy Ích đề tựa năm Cảnh Thịnh Bính Thìn (1796).

3948. TRUNG HỌC VIỆT SỬ BIÊN NIÊN TOÁT YẾU.                            A. 328

     Tóm lược lịch sử Việt Nam từ Hồng Bàng đến Gia Long.

     Ngô Giáp Đậu soạn, Đỗ Văn Tâm nhuận chính.                                                  : 425

3949. TRUNG HỌC VIỆT SỬ TOÁT YẾU

     Ngô Giáp Đậu biên soạn, Phạm Văn Thu duyệt, Đoàn Triến, Phạm Văn Thụ, Cao Xuân Dục đề tựa. In lần đầu 1911. Có 22 bản in.

VHv. 987/11-4...                               : 426

3960. TRÙNG KHẮC TÂM ĐĂNG KẾ TRUYỀN

     Sự hình thành của thế giới gồm 9 kiếp. Kiếp thứ nhất: từ hư không cho đến khi có trời đất. Kiếp thứ hai: có nước, lửa, mặt trời, mặt trăng, bát quái. Kiếp thứ ba: có thái dịch, thái sơ, thái thủy, thái tố, thái cực, trời biến thành 36 tầng, đất cũng có 36 tầng. Kiếp thứ tư: có Bàn Cổ. Bàn Cổ chết, hóa ra vạn vật. Kiếp thứ năm: xuất hiện Tam Hoàng tức Thiên Hoàng, Nhân Hoàng, Địa Hoàng. Kiếp thứ 6: có Ngũ Đế là Nguyên Thủy Thiên Tôn, Hư Hoàng Đại Đạo, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân, Cù Vân Đại Sư. Kiếp thứ bảy: Thích Ca ra đời. Kiếp thứ 8: Thích Ca Mâu Ni thành Phật. Kiếp thứ 9: Thích Ca giảng về Phật pháp.

3964. TRÙNG TƯƠNG TÂN LỤC    AB. 492

     Truyện Tư Mã Mạo: chàng tên Trùng Tương, người đời Hán, học giỏi, thi không đậu, lại gặp lúc gia biến, phẫn chí, làm thơ văn có câu xúc phạm đến Thiên Đình. Trời sai Diêm Vương bắt Trùng Tương xuống Âm Ti để thử tài bằng cách cho xử các vụ kiện như Hàn Tín kiện Bái Công, Hạng Võ kiện 6 tướng, két quả việc nào cũng được Trùng Tương xử đâu ra đấy. Tư Mã Đạo do vậy được tha về trần gian, sau đầu thai thành Tư Mã Ý.                                               : 435

3979. TRỪNG KHÊ THI VĂN TẬP  VHv. 268

     Ngô Thạc Phủ, hiệu Ngọc Phong soạn năm 1863 (Tự Đức Quí Hợi).                           : 443

3989. TRƯƠNG VIÊN DIỄN CA. VNb. 80

     Vở chèo Trương Viên: Trương Viên, một học trò nghèo, quê ở Vũ Lăng. Mẹ chàng già yếu. Vợ chàng là Phương, con quan Thừa tướng. Trương Viên theo lệnh vua đi dẹp giặc xa. Ở nhà giặc đến, Phương phải dắt mẹ vào rừng lánh nạn. Chẳng may mẹ bị đau nặng, Phương phải khoét hai mắt của mình để cúng thần, cứu mẹ thoát chết. Sau đó nàng được Tiên Nga dạy cho nghề đàn hát, hai mẹ con dắt díu nhau đi hát rong kiếm sống. Tình cờ một hôm, Phương và mẹ đến nơi Trương Viên đóng quân, Trương Viên cho mời Phương vào hát. Mẹ con vợ chồng lúc này mới gặp nhau. Trương Viên đưa ngọc lưu li là kỉ vật ngày hai vợ chồng mới lấy nhau cho Phương xem, bỗng nhiên hai mắt của Phương lành lại như cũ. Gia đình từ đấy đoàn tụ. Trương Viên được vua phong là Tướng quốc Nguyên nhung, còn Phương được phong nhất phẩm phu nhân.                                     : 449

4000. TRƯỚNG HẠ BI KÍ HÀNH TRẠNG TẠP VĂN.                                        A. 2909

     Sự tích hai công thần triều Lê: Ngô Công Bảo và Mai Xuân Bảng.                       : 454

4022. TÙNG HIÊN BẢO QUANG NGÔ TỬ VĂN TẬP.                                              A. 2144

     43 bài văn, thơ của Ngô Đình Thái (tự Bảo Quang, hiệu Tùng Hiên) làm hộ người khác: 463

4023. TÙNG HIÊN TẬP.          VHv. 1469

     87 bài  văn của Ngô Đình Thái.           : 463

4204. TÙNG HIÊN TRƯỚNG SÁCH VĂN

             A. 530

     35 bài văn sách của Ngô Đình Thái.    : 463

4032. TÙY THỜI ĐẠI NGHIỆP BI VĂN.

VHv. 2369

     Nguyễn Nhân Khí   Hà Nam soạn năm Tùy Đại Nghiệp Mậu Dần.

     Viên mục xã Phù Liễn chép lại vào năm  Vĩnh Khánh Tân Hợi (1731), Chu Văn Liên chép lại vào năm 1952.

     Tú tài Ngô Bá Chuẩn ở Phù Liễn sao lại vào năm Thiệu Trị 2 (1842).

     Bài văn bia ở đền x. Phù Liễn, tg. Thạch Khê, h. Đông Sơn, ph. Thiệu Hóa, t. Thanh Hóa: tài học và sự nghệp của viên quan cai trị Châu Ái dưới thời thuộc Tùy.               : 467

4046. TUYẾT TRAI THI TẬP        A. 1854

     161 bài thơ dùng làm mẫu cho người học làm thơ, do Ngô Thời Ức soạn.                 : 475

4047. TƯ HƯƠNG VẬN LỤC.         A. 699

     66 bài thơ của Lê Quang Bí gửi gia đình trong 19 năm ông đi sứ TQ, bắt đầu từ năm Gia Tĩnh 33 (1554).                                        : 476

4137. TƯỜNG TỘC PHẢ KÍ.           A. 1642

     Gia phả họ Tường, vốn là họ Đỗ, ở x. Bối Khê, h. Khoái Châu, Hưng Yên. Từ thủy tổ trở xuống có 12 đời.

     Tường Duy Quý soạn, Tường Vĩnh Tuy chép năm Khải Định 2 (1917).                        : 515

4161. VẠN PHƯƠNG TẬP NGHIỆM. A. 1287

     100 bài thuốc gia truyền, do Ngô Tỉnh tự Văn Tỉnh, hiệu Trấn An soạn, Nguyễn Nho hiệu chỉnh, Nguyễn Địch sao lục. Bài tụa đề năm Cảnh Hưng Canh Ngọ (1762).                  : 529

4172. VĂN DUYÊN DIỄN HÍ.      AB. 280

     Vở tuồng diễn sự tích Văn Duyên (Đoan): Văn Duyên tên thật là Lía, người Qui Nhơn, mồ côi cha từ nhỏ, rất thương mẹ, hay bắt trộm gà vịt mang về cho mẹ. Mẹ Lía không đồng tình, răn dạy nhiều lần, đem Lía giao cho thầy học, nhưng Lía bỏ học. Sau Lía cùng với Hồ và Nhẫn vào rừng lập hội “Anh hùng hảo hớn”, thường cướp của kẻ giàu chia cho người nghèo.

                                                           : 535

4175. VĂN ĐẾ CỨU KIẾP CHÂN KINH DIỄN ÂM.                            AN. 141

     Ngô Vi Lâm diễn Nôm theo thể thơ 6-8, cuốn Văn Đế cứu kiếp chân kinh của TQ.  : 536

4223. VÂN CÁT LÊ GIA NGỌC PHẢ. A. 3181.

     Gia phả họ Lê ở th. Vân Cát, x. An Thái, h. Vụ Bản: thủy tổ là Lê Tư Vinh, con thưs 5 của Lê Bang Cơ (Nhân tông). Sau khi họ Mạc cướp ngôi vua Lê, Tư Vinh chạy về thôn Vân Cát, lấy vợ là Trần Thị Thục, sinh Tư Thắng. Thắng sinh Giáng Tiên, tức là Công chúa Liễu Hạnh.

     Hương cống Nguyễn Quốc Trinh biên soạn năm Vĩnh Tộ 5 (1623). Sao chép lại  năm Bảo Đại 15 (1940).                                      : 556

4224. VÂN CÁT THẦN NỮ CỔ LỤC. A.1927

     Sự tích vị nữ thần ở th. Vân Cát, h. Vụ Bản  thời Lê Anh tông: nữ thần tên thật là Giáng Hương, lấy một người họ Đào, sinh được 1 trai, 1 gái. Năm 21 tuổi, Giáng Hương chết. Sau lại đầu thai  lấy một người họ Lưu (chính là người chồng cũ, cũng đầu thai), sinh thêm 1 gái. Người chồng thi đỗ TS, làm quan ở Viện hàn lâm. Sau khi mất, Giáng Hương rất linh thiêng, nhân dân lập đền thờ ở Phố Cát.            : 556

4328. VIỆT SỬ TIÊU ÁN.          A. 11 ...

     Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ soạn: bình luận về một số sự kiện lịch sử VN từ Hồng Bàng cho đến cuối Trần. Sau được đưa vào Đại Việt sử kí in thời Tây Sơn.                                       : 616

4340. VĨNH GIA THÁM HOA PHAN KÍNH TRUYỆN.      VHv. 1352.      MF. 1842

     Tiểu sử, hành trạng của Phan Kính: ông húy

Sưởng, tự Dĩ Trực, hiệu Tĩnh Trai, quê ở th. Vĩnh Gia, h. La Sơn, t. Hà Tĩnh, đỗ TH (1743), được nhà Lê trọng dụng, cho làm Đông các học sĩ lúc 37 tuổi. Sau khi mất được phong làm Phúc Thần Đại Vương.                            : 622

4355. VỊNH SỬ THI QUYỂN.  A. 849.

     334 bài thơ đề vịnh thắng cảnh, danh nhân,...

Bản trên có ghi chú như sau: “Sách gia đình họ Bùi; còn một tên nữa là “Tứ hổ, An Nam tứ đại tài”, gồm Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Trác Luân, Nguyễn Bá Lân, Ngô Tuấn Cảnh” : 630

4361. VŨ DÙ THỊ TIÊN SƯ DI SỰ KHẢO.

A. 1161,  MF. 1614

     Sự tích Bùi Quốc Khải, người x. Quất Động, tg. Bình Lăng, h. Thượng Phúc, ph. Thường Tín, trấn Sơn Nam, có công dạy dân các làng Đô Quan,Tam Xá, Phi Dương,Vũ Lăng và Hương Giải làm dù. Tương truyền trong chuyến đi sứ TQ vào đời Lê Thái tông (1343-1442), Bùi quốc Khái được triều đình nhà Minh thử tài  bằng cách cho ở trong một gian nhà trên gác đã bị lấy mất cầu thang. Bùi quốc Khái phát hiện ra trong nhà có một tượng Phật, một lò hương, một bát nước sạch và 2 chiếc dù. Nhanh trí cho rằng, Phật chả lẽ bày vô cớ, ông tách đôi Phật ra, thấy có nhiều bột mì để bên trong. Có bột mì, có lò hương, có nước sạch, thế là đã có cái duy trì cuộc sống. Ông quan sát kĩ 2 chiếc dù, đặc biệt là cách làm ra nó, rồi cầm mỗi tay một chiếc, nhảy xuống sân nhà một cách an toàn. Sau khi về nước, ông truyền lại kỉ thuật làm dù cho địa phương, được dân tôn thờ ông làm tiên sư. : 633

4403. VŨ THỊ GIA PHẢ.                  A. 2941

     Gia phả họ Vũ ở ph. Thiệu Hóa, t. Thanh Hóa, bắt đầu từ thủy tổ là Vũ Uy, người Chiêm Thành theo vua Lê Thái tổ đánh quân Minh lập  nhiều chiến công, được ban quốc tính.       : 654

4436. XUÂN THU QUẢN KIẾN.  VHv. 806

     Lời bình của Ngô Thì Nhậm về các sự kiện chép trong sách Xuân Thu. Soạn năm 1786: 673

4447. XƯỚNG KHÚC TẬP THI.   AB.195

     Một số bài hát ả đào....

     Nam Dương Ngô Đình Thái, tự Bảo Quang, hiệu Tùng Hiên  soạn.                     : 679

4513. YÊN ĐÀI THU VỊNH.       A. 1697

     Thơ văn Ngô Thì Nhậm làm trong thời gian đi sứ TQ (1793).

     Tùng Hiên hiệu duyệt, Thận Trai biên tập, Thì Trí sao chép.                                : 714

 

 

 

DI SẢN HÁN NÔM VIỆT NAM THƯ

            MỤC ĐỀ YẾU

   NXB KHOA HỌC XÃ HỘI 1993

 THƯ VIÊN QUỐC GIA: VV 353/93                     

              VV356/93

 

                  TẬP MỘT

16. AN NAM HÀ TIÊN THẬP VỊNH A.441

      Mười thắng cảnh Hà Tiên: Kim dữ lan đào (Đảo vàng chắn sóng), Bình sơn điệp thúy (Bình sơn núi biếc), Tiêu tự hiểu chung (Chuông sớm chùa Tiêu), Giang Thành dạ cổ (Trống đêm Giang Thành), Thạch Động thôn vân (Thạch Động ngậm mây), Chu Nham lạc lộ (Cò đậu Chu Nham), Đông Hồ ấn nguyệt (Trăng rọi Đông Hồ), Nam Phố trưng ba (Sóng yên Nam Phố), Lộc Trỉ thôn cư (Thôn cư Lộc Trỉ) và Khê ngư bạc (Thuyền đậu Lư Khê).

93. BÁI DƯƠNG NGÔ THẾ VINH KINH HỒI TIỄN HÀNH.               A. 2639

     Thơ của bạn bè, học trò...tiễn Ngô Thế Vinh về quê dưỡng lão.

     Dươngg đình Ngô Thế Vinh biên tập.    : 56

94. BÁI DƯƠNG NGÔ TIÊN SINH THI TẬP  A.2449.

     350 bài thơ của Ngô Thế Vinh  dùng làm khuôn mẫu cho học trò và 350 bài thơ luyện thi ở trường Ngô Thế Vinh.                    : 56

95. BÁI DƯƠNG THI TẬP.              VHv. 142  

     382 bài thơ của Ngô Thế Vinh làm trong 2 năm 1841-1842, gồm thơ thuật sự, vịnh sử, cảm hoài,...                                                  :57

96. BÁI DƯƠNG THƯ TẬP.          VHv. 139 

     Tập văn của Ngô Thế Vinh, gồ thư từ trao đổi với đồng liêu, bạn bè, câu đối, văn mừng,..

Văn bia 12 đời vua Trần, văn bia nhà thờ họ Đoàn, họ Đào,...                                : 57

103. BẢN QUỐC DỊ VĂN. A. 3178 , A.3197

     30 truyện lạ, gồm truyện dân gian; truyền thuyết lịch sư; giai thoại, truyền thuyết về các nhân vật lịch sử. Trong phần sau cùng này,có bài viết về Ngô Tuấn Cung.                : 62

     (Dân gian có câu: Tuấn Cung, Tuấn Dị hữu nhị vô tam).

234. CHIẾU BIỂU PHÚ HỢP TUYỂN          VHv. 1926

       Đầu đề 3 kì thi Hội năm Ất Sửu (1965); một số bài văn sách, thơ phú của những người thi đỗ, trong đó có Ngô Văn Phát.

262. BÌNH VỌNG NGUYỄN THỊ GIÁP PHÁI GIA PHẢ.               A. 634

     Gia phả chi Giáp của họ Nguyễn l. Bình Vọng, h. Thượng Phúc, ph. Thường Tìn. Chi này vốn trước là họ Lê.

     Do Kính Trai Nguyễn Thức biên  tập, Ngọc Đường Nguyễn Dư hiệu chỉnh năm 1828, Tùng Hiên Nguyễn Triết Huân viết tựa 1829    :157.

279. BỒI TỤNG CÔNG VĂN TẬP  A. 527

     Cựu văn ban Ngô Trọng Khuê biên tập. Thơ văn của Ngô Duy Viên (tức Ngô Trọng Khuê), làm quan Bồi tụng cuối đời Lê, gồm: thơ dạy con, tuyệt bút, tiễn bạn bè....                : 165

295. BÚT HOA TÙY LỤC.          A. 2690

     Hương Thụ Sơn Nhân biên tập năm 1893.

     Văn thơ mừng Nguyễn Đỉnh Thần đỗ TS (1892) của những người trong họ trong thôn, họ ngoại và của: Hoàng Cao Khải, Ngô Quang Huy, Bùi Hướng Thành,...                  : 174.

        (Có lẽ là Nguyễn Đĩnh: La Chử, Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế)

340. CẢM ỨNG THIÊN GIẢI ÂM.  AN. 116

     Gồm nguyên văn chữ Hán và bản dịch Nôm của Ngô Văn Bỉnh, hiệu Cúc Hòe.    : 199

376. CẢO PHONG CÔNG THI TẬP. A. 516

     Thơ văn của Ngô Duy Viên làm chức Bồi tụng vào cuối thời Lê. Có thơ tiễn Lê Quí Đôn đi làm Tuần phủ Thuận Hóa, thơ tặng Bùi Huy Bích. Nhiều bài làm dưới thời Quang Trung: biểu tạ ơn khi được triệu vào Phú Xuân,..  : 225

454. CHIÊU QUÂN CỐNG HỒ TRUYỆN

                 VNb.  70

     Truyện thơ Nôm 6-8, chia thành 40 đoạn, kể lại chuyện Chiêu Quân: nàng nguyên tên là Vương Tường, con gái viên quan Tri phủ họ Vương ở Việt Châu, có nhan sắc, lại có tài thi họa, được đón vào cung làm Vương phi. Quan Khâm sai Mao Diên Thọ hận vì không được cha con họ Vương trọng đãi, đã tìm cách làm hại, buộc Hán Nguyên Đế phải đem nàng cống cho vua Phiên. Trên đất Hồ, Chiêu Quân đã khéo léo mượn tay vua Phiên để diệt tên phản thần Mao Diên Thọ, và thả các tướng Hán đang bị Phiên giam giữ. Nàng lại yêu cầu vua Phiên bắc cho chiếc cầu nổi, nói là để tế thần Bạch Dương. Sau lễ tế, Chiêu quân đã từ trên cầu gieo mình xuống sông tự tử, giữ trọn tiết trinh. Em gái nàng, Trại Chiêu Quân, được Tiên ban cho phép lạ, lại được tuyển làm Chánh cung, đem quân đánh Hồ, báo thù cho chị và rửa hận cho nhà Hán.                                  : 267

526. CHƯ ĐỀ MẶC.         VHv. 18

     Trong tập thơ văn đề vịnh này, có Nhị Thanh động mặc tích gồm thơ, phú, bi kí về động Nhị Thanh ở Lạng Sơn. Bài tán về bức tranh truyền thần và bài phú động Nhị Thanh của Ngô Thì Sĩ.                                                         : 310

552. CỐ LÊ TẢ THANH OAI TIẾN SĨ NGÔ THÌ SĨ CÔNG THI SAO=CỐ LÊ NGỌ PHONG MẶC NGẤN.         VHv. 21

     Gồm 3 tác phẩm:  1. Nhị Thanh thi văn tập

2. Quan lan tập 3. Vọng triều tập.   : 325

564. CỔ KIM TRÙNG TÍNH TRÙNG DANH KHẢO.                           VHb. 271

      Bảng tra các nhân vật lịch sử trùng họ, trùng tên từ xưa cho đến thời cận đại. Dưới tên mỗi người có ghi rõ quê quán, thời đại, chức tước.

     Đặng Xuân Khanh, hiệu Mai Phong  biên tập.                                                           :336

597. CÚC ĐƯỜNG BÁCH VỊNH THI TẬP.   A. 1168

    Trong đó có thơ xướng họa giữa Ngô Thì Nhạm và Phan Huy Ích.                         : 355

609. CÚC THU BÁCH VỊNH TẬP.   A. 1554

     100 bài thơ xướng họa giữa Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm trong dịp tết Trùng Dương:362.

637. CỨU SINH TRỊNH THÁNH TỔ SỰ TÍCH.  VHv. 2946.   

     Sự tích Hòa thượng Trịnh Hợp: ông tên húy Như Như, tên hiệu là Lân Giác, người Sóc Sơn, Vĩnh Phú là con thứ 11 của Tham tể Tấn Quang Vương. Trịnh Hợp sinh năm 1696, lớn lên rất thông minh, tuấn tú, được vua Hy tông gả Công chúa. Nhưng ông bỏ di tu ở chùa Yên Tử. Sau trở thành Bồ Tát.                                     : 374.

 666. DANH HỔ KHIẾU ĐỘNG SAN THÀNH LƯU ĐỀ THẠCH BÍCH THII TỊNH KÍ =HỒ KHIẾU ĐỘNG ĐỀ THI TỊNH KÍ.

 VHv. 1787 

     Có bài kí của Ngô Thúc Hựu đề ở động Hồ Khẩu, trên núi Hổ, h. Vụ Bản.               : 392

695. DAO ĐÌNH THI TẬP.               A. 1852

     Trong đó có Quan Lan Sào thập cảnh gồm 129 bài thơ của Ngô Thì Sĩ và một số người khác đề vịnh các thắng cảnh ở x. Cự khánh, h. Đông Sơn, Thanh Hóa.                        : 407       

701. DI ÁI XÃ TRẦN GIA PHẢ KÍ. A.681

     Hành trạng Trần Mô: ông nội Mô là Trần Thánh Ca, người Phúc Kiến, TQ, tránh loạn đời Thanh đến x. Di ái, h. Dan Phượng làm nghề dệt gấm. Trần Mô đỗ TS năm 1733, làm Đông các Đại học sĩ.                                     : 410

708. DI TRẠCH ĐƯỜNG PHẢ KÍ.   A. 1294

     Gia phả 6 đời họ Nguyễn Huy ở x. Phú Thị, h. Gia Lâm, có thơ văn của Nguyễn Huy Cận.

     Tiền quân Văn hầu Nguyễn Huy Doanh, biên tập, Viên Am Nguyễn Huy Quýnh hiệu đính,  Ngô Quế Hương viết tựa từ 1802-1804.

746. DU HƯƠNG TÍCH ĐỘNG KÍ.  A. 2814

     Trong đó có: Du Hương Tích động thi tập: do  Án sát  Hà Nội Đặng Lương Hiên soạn, Nguyễn Chí Đình phẩm bình, TS Nguyễn Tùng Thúc phê duyệt, TS Ngô Tham bình luận.  : 431

782. DƯƠNG ĐÌNH PHÚ LƯỢC.   VHv. 430     

     Những bài phú của Ngô Thế Vinh và các tác giả khác như Đỗ Phát, Ngô Bảo Phong, Phạm Vĩ, Dặng Huy Trứ...                             : 451

783. DƯƠNG ĐÌNH PHÚ PHẢ.       A. 1607

     65 bài phú của Ngô Thế Vinh, dùng làm mẫu cho lối văn thi cử.                         : 451

784. DƯƠNG ĐÌNH TANG SỰ THI TRƯỚNG ĐỐI LIÊN TẬP.                       A.1243

     Thơ, văn tế, văn đối sử dụng trong dịp lễ tang của thân phụ, thân mẫu, anh cả (tên là Tùng Hiên), con trưởng (tên là Ngô Thế Quý) của Dương Đình.                                

     Môn sinh, CN Vũ Doãn Khải biên tập:   451

785. KHẤP VÃN DƯƠNG ĐÌNH THI TRƯỚNG TẬP.                       A. 1302

     Thơ, trướng văn, câu đối, văn tế, ...của đồng liêu, bạn hữu, đồng tộc khóc Ngô Thế Vinh, trong đó có những tác giả như Đỗ Trọng Khiêm, Nguyễn Văn Đạo, Nguyễn Giang Hiên, Giám Hồ, Ngụy Khắc Tuần, Phạm Văn Nghị, Nhữ Bá Sĩ, Hà Tông Quyền,..            : 452

811. ĐẠI ĐIÊN THÁNH SỰ TÍCH.   A. 2721

     Sự tích thánh Đại Điên ở th. Tiền, x. Dịch Vọng, h. Từ Liêm: Ông tên húy là Lê Nghĩa, một nhà sư triều Lý, đạo thuật rất tinh thông, có công giúp vua. Sau khi  mất, ông được phong là Lê Đại Điên Giác Hoàng Thiền Sư và đượcc dân x. Dịch Vọng lập đền thờ.

     Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc thứ nhất (1572), Nguyễn Hiền phụng sao năm Vĩnh Hựu 3 (1737). Chép lại vào năm Duy Tân 9(1915):466

825. ĐẠI MỖ NGUYỄN TỘC TÂM ĐẠI VƯƠNG PHẢ KÍ. VHv. 1337, VHv. 1338

      Trong đó có  Thám hoa quốc lão trí sĩ Thái tể đại vương phả kí do Hà Tông Huân, Nghiêm Bá Đĩnh soạn năm Vĩnh Hựu 2 (1936) ghi về hành trạng của Nguyễn Quý Đức.         :  473

871. ĐẠI NAM QUỐC TÚY.           AB. 178

     1800 câu phương ngôn, tục ngữ, xếp thành 46 bài (mục). Ngoài ra còn có khoảng 600 câu ca dao.

      Tam Thanh Hiếu liêm Ngô Giáp Đậu biên tập năm Duy Tân 2 (1908).                  : 500

911. ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TIỀN BIÊN. A.2/1-7

     Ngô Thời sĩ biên soạn. Khắc in năm Cảnh Thịnh 8 (1800).                              : 525

953. ĐẶNG PHẠM TỘC GIA PHẢ. A. 3043

     Gia phả 10 đời của họ Đặng Phạm ở l. Từ Liêm. Họ này trước là họ Phạm, đến đời thứ 3, An Trung đổi thành Đặng.                       : 550

1011. ĐIỆN THỪA LIÊN KHÊ CÔNG NIÊN PHẢ.                        A. 1005

     Tiểu sử của Nguyễn Liên Khê: tổ tiên nguyên họ Lê, đến đời Nguyễn Hữu Đăng đổi thành họ Nguyễn, ở Phường Phúc Bồ, ph. Phụng Thiên. Liên Khê từng đỗ Điện thí, làm Cổ Pháp  điện Tự thừa.                         : 575

1114. ĐÔNG ĐỒ XÃ NGÔ GIA PHẢ KÍ.

A. 1487

     Gia phả  6 đời của họ Ngô ở x. Đông Đồ, h. Đông Anh. Họ này vốn ở th. Xuân, x. Đồng Bàng, h. Yên Định, ph Thiệu Thiên, xứ Thanh Hóa, có Ngô Tây, Ngô Kinh, Ngô Từ là công thần triều Lê.                                     : 626

1128. ĐÔNG NGẠC NGUYỄN TỘC THẾ PHẢ.                        A. 1434,  A. 652

     Gia phả họ Nguyễn ở x. Đông Ngạc, h. Từ Liêm: thủy tổ là Đào Quý Công hiệu Thủ Phận, TS triều Lê, quán x. Phù Đỗng, h. Tiên Du, trấn Kinh Bắc, con thứ của Phò mã Đào Tướng công, vì gia biến, chuyển tới l. Nguyệt Áng, h. Thanh Trì, đến đời Phú Khiên, chuyển về Đông Ngạc, đổi thành họ Nguyễn.

Bài tự làm năm Kiến Phúc thứ nhất (1884): 633

1324. HÀN CÁC ANH HOA=NGÔ GIA VĂN PHÁI HI DOÃN CÔNG TẬP.    A. 2170

     20 bài khải, chiếu, biểu của Ngô Thì Nhậm soạn vào cuối Lê và thời Tây Sơn.          : 746

1328. HÀN CÁC VĂN THỂ TRÌNH THỨC.

 A. 281

     Những bài văn trúng cách trong các khoa thi Hội đời Lê. Mỗi bài đều có ghi tên người soạn, như Phạm Khiêm ích, Vũ Công Trấn, Nguyễn Công Thái, Hà Tông Huân, Ngô Bật Lượng, Hoàng Nghĩa Phú, Bùi Cầu, Đào Nghiễm.: 749

1369. HIỆN KIM BẮC KÌ CHI ĐỊA DƯ SỬ.

A. 398

     Lịch sử Bắc Kì và địa dư 2 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng), 2 đạo (Hà Dương, Lai Châu) và 25 tỉnh thuộc Bắc Kì.

     Giáo thụ phủ Hoài Đức  Ngô Giáp Đậu biên soạn.                                            : 773

1431. HOAN CHÂU PHONG THỔ KÍ

       VHv. 1719               VH v. 1458  

     Địa lí Nghệ An, do Đốc Đồng Nghệ An là Trần Danh Lâm soạn.

     Bản VHv. 1719 còn có  Đông Thành phong thổ kí của Ngô Trí Hiệp soạn.            : 810

1432. HOAN CHÂU PHONG THỔ THOẠI

     VHv. 1376

     Trong đó có Nghệ An phong thổ kí  do Bùi Dương Lịch soạn. Có 42 bài thơ vịnh  phong cảnh Nghệ An cử Ngô Thời Phùng, Lê Hồng Phổ, Trần Thức Cốc, Đỗ Phúc Ngũ,        : 812

1439. HOÀNG CÁC DI VĂN.   A. 2137

     Văn kiện nhà nước thuộc 3 triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị.

     Ngô Thế Vinh biên tập và viết tựa  năm Thiệu Trị 7 (1847).                              : 818

1441. HOÀNG CHIÊM ĐỊA LÝ CẢO. A. 458

     126 hình vẽ các kiểu đất quý của các địa phương trong nước.

     Hoàng Chiêm tức Nguyễn Đức Huyền, hiệu Phú Hưng, người l. Tả Ao, h. Nghi Xuân : 821

1447. HOÀNG HOA ĐỒ PHẢ.   A. 2871

     115 bài thơ của Ngô Thì Nhậm làm trong dịp đi sứ TQ năm Quý Sửu (1793) để báo tang Quang Trung và cầu phong cho Quang Toản   

                                                :824

1492. HOÀNG VIỆT LONG HƯNG CHÍ. A.23

     Tiểu thuyết lịch sử 34 hồi, nói về quá trình xây dựng cơ  nghiệp của  nhà Nguyễn, kể từ Nguyễn Kim phò Lê chống Mạc cho đến khi Gia Long đánh Tây sơn, bắt đượcc Quang Toản, lập nên triều Nguyễn.                   :  851

1501. HOÀNG VIỆT THÁI PHÓ LƯU QUÂN MỘ CHÍ.          A. 1027

     Soạn năm Thiên Thuận 3 (1130).

     Mộ chí của hai anh em Lưu Khánh Đàm và Lưu Khánh Ba, người th. Yên Lãng, quận Cử Chân, đều kês nhan làm chức Thái phó triều Lí, khi mất được phong làm Thành hoàng.

     Bài văn bia do Ngô Thế Vinh soạn năm Tự Đức 8 (1955).                                 :    856

1512. HOẠT NHÂN BỊ YẾU.     A. 2798

     Phú, Luận, ca nói về  phép chẩn mạch, xét khí sắc con người, tính chất và cách thức dùng một số thuốc Nam, Bắc..             : 862

1561. HÙNG TRIỀU NGÔ TƯỚNG CÔNG SỰ TÍCH VĂN.        AB. 359

      Bài văn chầu kể sự tích Ngô Long, con một thầy lang người TQ đời Tần, lánh nạn sang l. Thanh Qua, h. Thanh Oai, có tài văn võ, giúp vua Hùng thứ 18 dẹp giặc, được phong tặng Thượng Trụ Quốc Công.                        : 893

1591. HƯƠNG MẶC XÃ NGÔ TỘC GIA PHẢ.                          A. 675

     Gia phả  do cháu nhĩ tôn Nguyễn Trọng Quýnh, tự Đạo Hiên biên tập năm Mậu Ngọ 

                                                            : 909 

               HẾT TẬP MỘT

 

1622. KHẢI ĐỊNH NGỰ GIÁ NHƯ TÂY THI TẬP           VHb. 2

      Có nói tới con cháu Nguyễn Văn Chấn (Dayot), Nguyễn Văn Thắng (Vannier), Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine)       : 5

1624. KHẢI TIẾN THI BIÊN A.1226

     Ngô Đôn biên tập, Nguyễn An Chi duyệt bình. 112 tr.                                   : 7

1645. KHẢO XÍCH ĐẠC BỘ PHÁP

VHv  2556

     Ngô Thế Vinh biên tập, chép lại năm Hàm Nghi 1 (1885). Khảo cứu cách đo đạc bằng thước và bằng bộ (bước chân) từ thời Hoàng Đế, Hạ, Thương, Chu đến Hán, Đường, Tống                         : 18

1679. KHỔNG LỘ, GIÁC HẢI NHỊ THÁNH TỔ SƯ                A. 2961

     Sự tích hai vị thánh tổ Khổng Lộ và Giác Hải: Khổng Lộ tức Nguyễn Chí Thành người l. Đàm Xá, h. Gia Viễn, t. Ninh Bình.

     Giác Hải tức Nguuyễn Quốc Y người, h. Hải Thanh, h. Giao Thủy, t. Nam Định . Hai người cùng sang Tây Trúc học đạo và kết bạn với Từ Đạo Hạnh. Về nước, Khổng Lộ chữa khỏi bệnh cho Lý Thần tông, được phong là Quốc sư, Giác Hải trừ được Mộc Tinh, được ban họ vua.                    : 35

1684. KHÚC GIANG NGÔ DƯƠNG ĐÌNH VĂN TẬP    A. 803

1691. KHƯƠNG CÔNG PHỤ SỰ TRẠNG KHẢO               A. 2912       MF. 1549

     Khương Công Phụ, tự Văn Khâm, người phường Cổ Hiểm, h. Cửu Chân, châu Ái, đỗ TN đời Đường, làm Tể tướng đời Đường Đức Tông, sau bị truất làm Biệt giá ở Tuyền Châu, đến đời Thuận Tông lại được bổ làm Thứ sử ở Cát Châu và bị bệnh chết ở Tuân Hóa thuộc Khâm Châu. Tại đó hiện có đền thờ ông.               : 42

1706. KIẾN SƠN SÀO THI VĂN TẬP

VHv 258/ 1-3

     Huyền Đồng Tử (Ngô Quý Đồng) soạn năm Tự Đức 4 (1851) gồm khoảng 750 bài thơ, 40 bài văn.   Có bài kí nói  về nước Việt Nam muốn đuổi kịp các nước văn minh thì phải bỏ lối học khoa cử cũ, mà phải học khoa học, học thực tế                                                       : 49

1708. KIẾN VĂN LỤC VH 1155 MF. 2411

     Vũ Trinh (1739-1828) hiệu Nguyên Hanh biên tập, trong đó có một số thần thoại hoặc truyền thuyết: Hồn Trương Ba da hàng thịt..

     Phần cuối có Tây Sơn thực lục tóm tắt triều Tây Sơn.                                        : 51

1716. KIỂU ĐẠI VƯƠNG THƯỢNG ĐẲNG THẦN KÝ LỤC                   A. 2625

     Ngô Thế Vinh biên tập, Ngô Đình Thái chép sự tích Kiều Công Hãn, quê Phong Châu làm Đề sát giám quốc sự thời Ngô, sau chiếm giữ Thai Châu, Hào Châu và Phong Châu, xưng là Kiểu Tam Chế, một trong số 12 sứ quân. Sau khi mất, được dân làng lập đền thờ.       : 55

1737. KIM NGỌC QUYỂN  AB. 152 MF.1830

     La Khê tiên sinh soạn (có lẽ là người họ Ngô), Thạch Viên chủ nhân  chú giải về hơn 400 bài thuốc chữa bệnh người lớn và trẻ em.

1740. KIM SƠN GIA PHẢ          A. 943

     Nguyễn Mậu Tài biên soạn năm Chính Hòa 1691. Gia phả họ Nguyễn, trước là họ Lê ở l. Kim Sơn, Gia Lâm, HN. Trong dòng họ có nhiều người đỗ đại khoa như: Nguyễn Mậu Tài (Ts. 1646), Nguyễn Mậu Di (Ts. 1659), Nguyễn Mậu Thịnh (Ts.1691), Nguyễn Duy Viên (Ts. 1694).                                                  : 68

1761. KINH BẮC NHƯ QUỲNH TRƯƠNG THỊ QUÝ THÍCH THẾ PHẢ.      A. 959

     Lê Quý Kiệt biên tập năm Cảnh Hưng 40 (1779). Gia phả họ Trương ở Như Quỳnh, ông tổ Trương Lôi tự Cự Khanh, gốc Thanh Hóa, có công giúp vua Lê, được phong Khai quốc công thần. Sau con cháu dời đến Như Quỳnh, h. Gia Lâm. Trong họ có Trương Bà, tên húy là Trong, từng là Thị nội cung tần, Thương Hòa Tôn Thái Phu Nhân (em trai bà là Quốc cậu, bị kiêu binh phá nhà và là bố vợ Đại tư đồ Hoành Quận công Ngô Phúc Phương).                         : 79

1796. LA KHÊ XÃ TÂY THÔN  KHOÁN ƯỚC.                                          A. 970

     Khoán ước của họ Ngô -La Khê về việc thờ thần, vào đám, ma chay, cưới xin và thể lệ tô thuế ruộng chùa, ruộng hậu...                  : 95

1803. LA TỔ TRUYỆN                 A. 2560

     Truyện La Thị người Tức Mặc, NĐ, đi lính thú sang Thiểm Tây, gửi vợ con ở nhà cho người bạn họ Lý, Khi trở về biết vợ  ngoại tình với bạn,  bèn bỏ đi tu, thành đạo, gọi là La Tổ. Sau người con cũng đi tu gọi là Tiểu La Tổ: 99      

1821. LAM SƠN VĨNH LĂNG DỤ LĂNG BI SAO.                     VHv.   1384/1-2   MF. 1647

     Bản sao hai bài văn bia: 1) Bài khằc ở bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn năm 1435, ghi niên hiệu, nguồn gốc, sự nghiệp của Lê Thái tổ (1385-1433). 2) Bài khắc ở bia Dụ Lăng do Nguyễn Nhân Thiếp và Phạm Thịnh soạn năm 1504, ghi niên hiệu, nguồn gốc, sự nghiệp của Lê Hiến tông (1498-1504).                      : 109

1827. LAN KHÊ NGUYỄN TỘC PHẢ

VHv.  1339/1-2.

     Gia phả họ Nguyễn ở l. Lan Khê, h. Nông Cống.Vốn họ Hà ở l. An Lãng, ph. Thiệu Hóa; đến đời Lê Thánh tông, hai anh em Hà Thọ, Hà Thiệu mộ dân tới Nông Cống khai hoang và lập thành l. Lan Khê. Sau Hà Thiệu (đời thứ 7) làm con nuôi họ Nguyễn ở l. Đức Trạch, đỗ TS đổi thành họ Nguyễn (nay đã trở lại họ Hà).   : 112

1848. LẬP TRAI PHẠM TIÊN SINH THI TẬP

     Phạm Lập Trai (Quý Thích) soạn, Ngô Duy Viên sơ duyệt, Bùi Tồn An biên tập.

A. 400                                                  : 122

1850. LẬP TRAI THI TẬP     VHv. 1462/1-2

     Trong tập này có Nghĩa Khê thi tập (trong VHv. 2244 từ tr.96-121) của Phạm Sĩ Ái, người xã Trung Lập, h. Đường Hào, t. Hải Dương.  :123        

1919. Đinh Nhạ Hành là cháu 6 đời Đinh Văn Tả, người l. Hàm Giang, h. Cẩm Giàng  : 160

1936. LÝ THỊ GIA PHẢ        A. 1075

      Lý Văn Phức biên tập năm Minh Mệnh 2 (1821). Gia phả họ Lý ở phường Hồ Khẩu, HN nguyên gốc ở l. Tây Hương, h. Long Khê, t. Phúc Kiến. Đến đời Lý Khắc Liêm, quan Tổng đốc tỉnh Vân Nam không chịu thần phục triều Mãn Thanh, trốn sang định cư ở phường Hồ Khẩu, truyền 6 đời đến Lý Văn Phức:       168 .           

1943. LỊCH ĐẠI DANH HIỀN PHẢ  A. 2245

     Tiểu sử, quê quán 178 người  đỗ đại khoa từ cuối Trần đến Lê Chiêu Thống.            : 171

1944. LỊCH ĐẠI DANH THẦN SỰ TRẠNG

     42 truyện danh thần và liệt nữ dưới triều Lê và Mạc, trong đó có Ngô Công Hoán (BN) và có nói gốc tích họ Ngô ở Hoàng Xá (tr. 112).

A. 264 MF. 337                                   : 172

1948. Phan Viễn Khanh tức Phan Huy Quýnh (1775-1844) là anh Phan Huy Chú.       : 174

1975. Phan Huy Sảng (1764-1811) là em Phan Huy Ôn (1755-1786).

1992. LIỆT THÁNH BẢO CÁO    A. 2403

     Văn giáng bút của Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, khuyên làm điều tốt, bỏ điều xấu: 197

1995... NGÃ QUỐC NHÂN NHẬP SĨ TQ

     Những người VN làm quan ở TQ: Lý Thân, Vương Trung, Đặng Nhượng, Lý Tiến, Lý Cầm, Nguyễn Gia, Khương Công Phụ, Triệu Thái, Nguyễn An, Dương Công Liên, Trương Ngạn Sán, Lê Dung, Trần Nho, Lê Nguyên Hồng, Lê Vinh Đình...

2048. LUẬN BIỆN TÁN TỤNG CA CHÂM VĂN TẬP.                           A. 1264

     Cao Huy Diệu, Hà Tông Huân, Lê Anh Tuấn biên tập gồm 28 bài luận, biện, tán... đề tài lấy trong sử sách TQ về các vấn đề đạo đức, chính trị, xã hội...                                            : 227

2056. LUẬN NGỮ THÍCH NGHĨA CA

A.186/ 1-2 VÀ VHv 709/3-6

     Tự Đức biên soạn, Hoàng Hữu Xứng, Ngô Huệ Liên duyệt, Hoàng Bỉnh, Nguyễn Hiệu kiểm hiệu. Diễn Nôm theo thể 6-8, 20 thiên sách Luận ngữ                                          : 230                                                  

2093. LƯƠNG GIA THẾ PHẢ VHb. 57, MF1764.

Gia phả họ Lương ở l. Bùi Xá (Tam Đồng) Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông tổ Lương Quý Hương, tự Phương Khê thụy Hoa Ngạc, hiệu La Tào. Do cháu 12 đời là Nhật Tỉnh biên tập năm Minh Mệnh 6 (1825).                                      : 248

2099. LƯƠNG XÁ ĐẶNG THỊ PHẢ

VHv. 1341/1-5

     Gia phả họ Đặng ở x. Mạc Xá (Lương Xá), h. Chương Đức, do Ngô Thì Nhậm viết tựa. Họ này là dòng dõi của Trần Hưng Đạo, đến đời Trần Văn Huy, đỗ TS triều Lê, lấy tên hiệu là Đặng Hiên. Từ đấy về sau con cháu đều đổi sang họ Đặng như Đặng Dư, Đặng Toản, Đặng Khuê. Trong họ có nhiều người hiển đạt như: Đặng Huấn, Đặng Tiến Vinh, Đặng Thế Tài, Đặng Tiến Thự... sau có Đặng Trần Thường theo Gia Long chống Tây Sơn làm tới chức Binh bộ thuợng thư...                                 : 252

2128.  MAI DỊCH TRÂU DƯ VĂN TẬP

VHv. 1417 và A. 1280

     Ngô Thì Vị biên soạn: 93 bài thơ, 1 bài ca, 12 bài phú vịnh phong cảnh, cổ tích trên đường đi sứ TQ vào khoảng 1820-1821.       : 267

2139. MÃO CẦU TRẦN TỘC PHẢ      A. 680

     Gia phả họ Trần từ đời thứ 5 đến đời thứ 15 ở x. Trần Xá, h. Nam Xang, Hà Nam. Họ này vốn ở x. Tức Mặc, h. Mỹ Lộc, Nam Định, sau

 chạy loạn đến Trần Xá                  : 272

2183. MỘ TRẠCH LÊ THỊ PHẢ A.658

     Gia phả họ Lê ở l. Mộ Trạch, h. Bình Giang, t. Hải Dương: thủy tổ là Lê Nhữ Huy, quê ở Lão Lạt, h. Thuần Lộc, Châu Ái, sau chuyển ra quê vợ l. Mộ Trạch. Con trai Nhữ Huy là Lê Cảnh Tuân sinh ra Lê Thúc Hiên và Lê Quý Đỉnh đều có công giúp Lê Thái tổ dẹp giặc Minh, từ đó hiển đạt đến 35 đời.                                 : 294

2191. A. 1102 có tiểu sử công thần triều Nguyễn:  Ngô Đức Tuấn...                      : 298

2243. NAM HÀNH THI KÍ       A. 1946.

     Giải nguyên Ngô Tùng Hiên soạn: gồm 35  bài thơ vịnh cảnh... trên đường  từ Hà Nội vào Huế năm 1820.                                         : 327

2252. NAM PHONG GIẢI TRÀO AB. 348, AB. 232.

     Ca dao tục ngữ VN dịch từ Nôm ra Hán.

Trần Liễu Am và Ngô Hạo biên tập, Trần Doãn Giác đề bạt.                                             : 331    

2305. NAM XANG LIỆT NỮ TRUYỆN.

AB. 125

     Truyện Võ Thị Thiết vf chồng là Trương Sinh ở h. Nam Xang. Trương Sinh đi lính. Ở nhà, tối đến trước ánh đèn, Thieets thường chỉ bóng mình  dỗ con: “Cha mày đấy”. Do vậy, khi Sinh về, con không nhận cha, nói: “Cha tôi đến tối mới về”. Bị chồng ngờ là ngoại tình, Thiết nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử.

     Mai Đình Nguyễn Hòa Hương soạn.   : 359

2330. NGHĨA KHÊ THI TẬP VHv. 2345

     Có tập thơ của Phạm Sĩ Ái gồm:thơ tiễn, tặng viếng bạn, đề vịnh...

2337. NGOẠI LÃNG DOÃN TƯỚNG CÔNG PHẢ KÝ          VHv. 1747

     Hành trạng và sự nghiệp của Doãn Uẩn, người l. Ngoại Lãng, h. Thư Trì, t. Thái Bình. Ông nhà nghèo, 34 tuổi đỗ CN, làm án sát tỉnh Định Tường, có công dẹp loạn Lê Văn Khôi, được phong An Tây mưu lược tướng.       : 374

2343. NGỌC ĐỒNG HƯƠNG ƯỚC A. 324

     Hương ước của l. Ngọc Đồng, h. Kim Động, t. Hưng Yên, do Trần Đình Nguyên, Nguyễn Tín Thi, Ngô Văn Đạo biên tập năm 1913 : 380

2345. NGỌC HOA CỔ TÍCH TRUYỆN AB 60

     Truyện thơ Nôm kể lại mối tình chung thủy giữa Phạm Tải và Ngọc Hoa: Ngọc Hoa là con gái một nhà giàu họ Trần. Nàng thông minh lại có nhan sắc, mới 13 tuổi đã có nhiều nơi quyền qúi đến cầu hôn, nhưng nàng đều không ưng. Một hôm Phạm Tải, một học trò nghèo đến nhà nàng xin ăn. Thấy chàng có tài, có đức, nàng đem lòng yêu dấu và sau đó lấy làm chồng. Biện Điền vì không cưới được Ngọc Hoa, đã tạc tượng nàng dâng cho Trang Vương. Ngọc Hoa bị bắt vào triều. Trang Vương tìm mọi cách mà vẫn không chinh phục nổi trái tim của nàng, bèn chuyển sang giết Phạm Tải. Ngọc Hoa tức giận tự rạch mặt mình cho xấu đi, nhưng Trang Vương vẫn một mực đeo đẳng. Nàng thấy vậy, đành vờ chấp thuận, hẹn ba năm sau mãn tang chồng sẽ lấy hắn. Đến ngày mãn tang, nàng tự vẫn để giữ lòng chung thủy với chồng. Dưới âm phủ, Phạm Tải cùng Ngọc Hoa làm đơn kiện lên Diêm Vương, tố cáo tội ác của Trang Vương. Kết quả Trang Vương bị ném vạc dầu, Phạm Tải và Ngọc Hoa đều được trở về dương thế và chàng đã trị vì đất nước thay Trang Vương.   

                                                    : 382

2347. NGỌC KIỀU LÊ TÂN TRUYỆN

VN.b 76

     Truyện thơ Nôm 6-8, kể lại mối tình chung thủy giữa Tô Hữu Bạch và Hồng Ngọc. Hồng Ngọc là cô gái vừa có nhan sắc, vừa giỏi văn thơ. Quan Ngự sử Dương Đình Chiếu dạm hỏi nàng cho con trai mình, nhưng bị khước từ, đã tiến cử Bạch Thái Huyền là cha của Hồng Ngọc đi sứ đất giặc. Bạch công phải gửi Hồng Ngọc cho bạn là Ngô Khuê. Vẫn bị Dương Đình chiếu tìm cách ép duyên. Ngô Khuê phải đưa gia quyến cùng Hồng Ngọc về quê trốn tránh. Thời gian ở gửi nhà họ Ngô, Hồng Ngọc đổi tên là Vô Kiều, phỏng theo tên người con gái xấu xí họ Ngô là Vô Diễm. Một lần đi thăm chùa, gặp nho sinh Tô Hữu Bạch, vừa đẹp trai vừa giỏi thơ văn, Ngô Khuê muốn gả Hồng Ngọc cho Tô. Nhưng khi đến xem mặt, chàng Tô lại gặp con gái Ngô Khuê xấu xí. Chàng từ chối.

     Trên đường đi Tràng An, Tô gặp Yên Tố, người hầu gái của Hồng Ngọc. Nhờ Yên Tố giúp đỡ, Tô và Hồng Ngọc đã cùng nhau hẹn ước kết duyên. Một buổi ngao du, Tô gặp Lư Mộng Lê đang cải trang nam giới, hai người rất ý hợp tâm đầu. Mộng Lê hứa gả “em gái” cho Tô. Sau đó Tô thi đỗ TS, bị Dương Tuần Phủ ép gả  em gái cho, chàng phải đổi tên là Liễu Tú tài để trốn, gặp Bạch công lúc này đổi tên là Hoàng Phủ đang đi tìm mình. Thấy Liễu tài hoa, lại thấy việc tìm Tô là mong manh, Bạch công nảy ý gả Hồng Ngọc và cháu là Lư Mộng Lê cho Liễu. Liễu từ chối. Giữa lúc Hồng Ngọc và Mộng Lê đang đau khổ vì ý định của Bạch công thì Ngô Khuê đến. Một cuộc tranh cãi quyết liệt giữa Bạch công và Ngô Khuê: Một bên ca ngợi chàng Tô, một bên ca ngợi chàng Liễu. Đúng lúc ấy quan Hàn lâm Tô Hữu Bạch xuất hiện trong vai Tú tài Liễu. Thế là mọi việc đã sáng tỏ. Mọi người vui vẻ làm lễ cưới cho Tô Hữu Bạch với cả ba cô gái: Hồng Ngọc (tức Vô Kiều), Mộng Lê và Yên Tố. : 382

2351. NGỌC THAN XÃ NGUYỄN THỊ TỐN CHÚC TỪ               VHv. 2644

     Di chúc của Nguyễn Thị Tốn ở x. Ngọc Than để lại cho 2 con trai là Đỗ Lai Thi và Đỗ Lai Tuyên, do Đỗ Lai Triết soạn năm 1862: 385

2357. NGÔ CÔNG HUẤN TỬ VĂN. A. 2219

     Bài thơ dài, mỗi câu 5 chữ của Ngô Duy Viên, khuyên con gái chăm học, sửa mình, giữ nết thảo hiền, không ham danh lợi...         : 387

2368. NGÔ TỘC  TRUY VIỄN ĐÀN PHẢ A.647

     Trần Danh Án, Phạm Giáp Thiên (Giao Khê bá), Vũ Huy Tấn (Dinh Trạch hầu) viết tựa và tán; Vũ Trinh (Lan Trì bá) viết bài thuyết; Nguyễn Cần Mưu (Vị Khê bá) viết đề dẫn; Lê Lương Thận hiệu Hi Triết viết bạt vào các năm 1791, 1792.                                        : 397

2369. NGÔ VĂN LỘC NGHIÊM ĐƯỜNG THI TẬP.         VHv. 2463

     Thơ văn của thân sinh Ngô Văn Lộc.     : 398

2405. NGUYỄN ĐÌNH TỘC GIA PHẢ THẾ HỆ TẬP  VHv. 2428

     Cháu 16 đời là Nguyễn Đình Hội biên soạn năm 1929, Trần Văn Phùng sao lại năm 1962.

Gia phả họ Nguyễn Đình: thủy tổ Nguyễn Nhữ Soạn  (con Nguyễn Phi Khanh, em Nguyễn Trãi), quê l. Nhị Khê, h. Thượng Phúc, sau nhập tịch quê ngoại ở x. Cừ Nội, Thanh Hóa, mộ dân khai hoang lập ra ấp Mê Thôn. Nguyễn Nhữ Soạn cùng Nguyễn Trãi theo giúp Lê Lợi, được phong Tuy Quận công.

2424. NGUYỄN THỊ GIA PHẢ (ĐÔNG ĐỒ)

A. 798

     Gia phả họ Nguyễn, thủy tổ là Hải Phong ở x. Đông Đồ, h. Đông Anh. Họ này là tông thất nhà Mạc, sống ở Hải Dương, sau đổi thành họ Nguyễn, di cư đến x. Tào Mai, h. Kim Hoa. Đến đời Phúc Hiền, dời đến x. An Hòa, h. Yên Lãng, cuối cùng dời đến Đông Đồ.

     Phả do Nguyễn Huy soạn, Ngô Đức Phủ viết tựa năm 1873.                              : 428

2428. NGUYỄN THỊ TÂY SƠN KÍ   A. 3138

     Có bài kí về lịch sử thành Đồ Bàn (tr. 92-99)

                                                      : 430.

2430. NGUYỄN THỊ THẾ PHẢ THỰC LỤC

A. 2258

     Gia phả họ Nguyễn từ năm Cảnh Trị 4 (1666) đến năm Thành Thái 9 (1897). Họ này trước là họ Đào, ở x. Phù Đỗng, h. Tiên Du, sau di cư đến Đông Ngạc, Từ Liêm và đổi thành họ Nguyễn là họ ngoại.                                 : 431

2448. NGUYỄN TỘC THẾ PHẢ (HƯƠNG KHÊ)          VHv.  1753

     Hành trạng Nguyễn Hễ, hiệu Thanh Khê, người x. Hương Khê (trước là Lan Khê), h. Tĩnh Gia, Thanh hóa. Nguyễn Hễ vốn họ Hà (Hà Hiệu), nguyên quán x. Vĩnh Khê, Nông Cống, làm con nuôi họ Nguyễn, đỗ TS giúp Lê Chiêu Thống và Gia Long chống Tây Sơn.          : 441   

2469. NGƯ PHONG TƯỚNG CÔNG TRUYỆN KÍ.                                VHv. 2072

     Tiểu sử, sự nghiệp Nguyễn Quang Bích, người th. Nhất, x. Trình Phố, tg. An Bồi, h. Trực Định, ph. Kiến Xương, đỗ TS năm 1869. Bài tưạ do tác giả viết năm Hàm Nghi thứ nhất (1885), Ngô Đức Dung, hiệu Tùng Lĩnh chép tặng Long Điền tiên sinh năm 1946.                         : 452   

2476. NGỰ CHẾ NGỌC PHẢ KÍ.      VNv. 241

     Gia phả nhà Lê, thủy tổ là Lê Hối, quán l. Như Áng, h. Lương Sơn, t. Thanh Hóa. Lê Lợi là đời thứ 4, khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh, lên làm vua xưng là Thái Cao Hoàng Đế, truyền đến Lê Xuân (Cung Đế), bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi. Sau Lê Ninh (Trang tông) diệt nhà Mạc, khôi phục cơ nghiệp nhà Lê, truyền đến Chiêu Thống là đời chót. Gia phả các chi.

     Nguyễn Hài và một số đình thần triều Lê biên tập năm Cảnh Hưng 41 (1780), Đặng Xuân Khanh chép lại năm 1962.                        : 456               

2510. NHÂN ÁI THẦN TỪ LỤC    A. 710

     Sự tích thần Đỗ Kính Tu, thờ ở đền th. Nhân Ái, x. Vân Canh, h. Từ Liêm, thần là người bản thôn, làm quan triều Lí, bị vu oan là phản nghịch nên tự tử.                                     : 473

2523. NHÂN THẾ TU TRI

     Có 6 bản in, do Cao Xuân Dục biên tập, Ngô Huệ Liên và Trần Sĩ Trác kiểm hiệu. Lê Đình Luyện, Nguyễn Thiện Hành hiệu chỉnh. Quốc sử quán in 1902.                                       : 478

1548. NHỊ ĐỘ MAI DIỄN CA. VNb. 28.

     Diễn Nôm thể 6-8 truyện Nhị Độ Mai: Mai công cha Mai Lương Ngọc bị gian thần Lư Kỉ

vu oan giết hại. Lương Ngọc phải chạy trốn. Trần Hạnh Nguyên, vợ chưa cưới của Lương Ngọc cũng bị gian thần lập kế đưa đi cống Hồ. Hạnh Nguyên nhảy xuống sông tự tử, được Chiêu Quân hiển linh cứu sống. Lương Ngọc thay tên đổi họ đi thi, đỗ TN rửa được oan cho cha và cùng Hạnh Nguyên sum họp.         : 493

2552 NHỊ KHÊ NGUYỄN THỊ GIA PHẢ A.944

     Gia phả họ Nguyễn ở Nhị Khê. Ông tổ thứ nhất là Phi Phượng, hiệu Phúc Chính, nguyên quán sở x. Chi Ngại, h. Phượng Sơn (Phượng Nhỡn). Cháu 5 đời là Nguyễn Phi Khanh: 496                                                      

2598.  ÔN DỊCH                               VHv. 2087 

     Ngô Hữu Tính và Trệ Giang Di Trai, Trinh Mông Dưỡng Phủ biên tập.             : 519

2604. PHẠM CÔNG TÂN TRUYỆN  AB. 14

     Phạm Công nhà nghèo, mồ côi cha từ nhỏ, dắt mẹ đi ăn xin. Cúc Hoa con gái quan phủ đem lòng yêu, hai người lấy nhau. Phạm Công sau thi đỗ Trạng nguyên, vua định gả công chúa cho, nhưng chàng từ chối vì đã có vợ. Vua giận bắt giam. Khi được thả về, Phạm Công cùng vợ sum họp được ít lâu thì Cúc Hoa mất để lại 2  con  nhỏ. Phạm Công rất thương xót. Giặc gĩa nổi lên, vua sai Phạm Công đi đánh dẹp, chàng mang hài cốt vợ và dắt 2 con cùng ra trận. Tướng giặc động lòng lui quân. Sau Phạm Công lấy Tào Thị làm vợ kế. Tào Thị là người lẳng lơ độc ác, rất tệ bạc với con chồng, khiến chàng càng thương nhớ Cúc Hoa và đã xin từ chức, xuống âm phủ tìm người vợ trước. Trải qua bao gian nan thử thách, cuối cùng vợ chồng con cái được sum vầy.                                      : 523    

2619. PHẠM TỘC GIA PHẢ (KÍNH CHỦ)

A. 2420

     Gia phả họ Phạm ở l. Kính Chủ (năm Minh Mạng 10 đổi thành x. Dương Nham), h. Hiệp Sơn, ph. Kinh Môn, Hải Dương. Họ này vốn họ Chúc ở t. Quảng Đông, TQ, đến đời Chúc Đức Công di cư sang VN, đến đời Trần Nhân tông đổi thành họ Phạm. Những người hiển đạt: Phạm Sư Mạnh, Phạm Gia Mô, Phạm Tiến.: 531

 

2642. TRUYỆN PHAN TRẦN    AB. 37

     Soạn theo thể 6-8: Vào thời Tỉnh Khang nhà Tống (1126), có 2 người bạn thân, một họ Phan, một họ Trần. Vợ 2 người đều đang có mang. Họ Phan và họ Trần hẹn trước với nhau, nếu một bên sinh con trai, một bên sinh con gái, thì sẽ gả con cho nhau.

     Sau họ Phan sinh con trai là Tất Chánh, họ Trần sinh con gái là Kiều Liên.

     Được cha mẹ dạy dỗ chu đáo, Tất Chánh học hành chăm chỉ, thi Hương đỗ Thủ khoa, nhưng vào thi Hội bị hỏng. Xấu hổ, chàng không trở về nhà nữa, ở lại kinh đô tìm nơi trọ học, quyết chờ khoa sau. Cùng thời gian này, cha Kiều Liên mất, quê nhà lại có giặc, hai mẹ con Kiều Liên chạy nạn, thất lạc nhau. Kiều Liên đến tu ở chùa Kim Lăng, nơi bà cô của Tất Chánh trụ trì. Một hôm Tất Chánh đến thăm cô, gặp Kiều Liên, chàng phải lòng và mắc bệnh tương tư. Nể lời sư cô, Kiều Liên tới thăm Tất Chánh. Qua câu chuyện họ nhận ra rằng, chính họ có duyên đính ước từ xưa. Từ đấy họ nhiều lần bí mật đến với nhau.

     Trở lại kinh thi Hội, Tất Chánh đỗ TH. Chàng xin sư cô cho cưới Kiều Liên, hai vợ chồng cùng nhau về quê Tất Chánh. Tới nhà, Kiều Liên bất ngờ gặp lại mẹ. Thế là hai họ Phan Trần sum họp hạnh phúc.               : 544

2691. PHÙ DUNG TÂN TRUYỆN   AB. 68

     Truyện thơ Nôm về bức tranh Phù Dung, thể 6-8: Thời vua Nguyên Thuận Đế, có Thôi Tuấn Thần, con nhà gia thế, học giỏi, mà viết chữ và vẽ tranh cũng rất đẹp. Vợ là Vương Thị có nhan sắc và có tài văn thơ. Hai vợ chồng Tuấn Thần rất thích bức tranh Phù Dung do chính tay Tuấn Thần vẽ. Do được ẩm bổ, Tuấn Thần cùng vợ thuê thuyền đi nhận chức Huyện úy ở châu Vĩnh Gia. Dọc đường bị chủ thuyền là A Tú, thấy vợ chồng Tuấn Thần giàu có, đã tìm cách hãm hại. Tuấn Thần phải nhảy xuống sông, còn vợ bị ép nài lấy con trai hắn. Sau Vương Thị tìm cách trốn được lên bờ, vào tu ở một ngôi chùa, lấy pháp danh là Tuệ Viên. Một hôm có khách đến lễ và tặng chùa bức tranh Phù Dung. Tuệ Viên nhận ra đó là thủ bút của Tuấn Thần khi trước. Rồi nhân xúc động, nàng đề luôn vào bức tranh một bài thơ tứ tuyệt nói lên hi vọng được giải oan cho chồng. Sau đó Cao Nạp Lễ là viên quan Ngự sử nghỉ hưu đến chơi chùa, thấy tranh đẹp thơ hay đã mua về nhà treo chơi. Về phía Tuấn Thần, sau khi thoát khỏi tay A Tú, chàng đã phải đi viết thuê, vẽ mướn để kiếm sống và cuối cùng vào làm gia sư cho Cao Nạp Lễ. Nhìn thấy bức tranh cũ của mình, lại nhận ra bài thơ và thủ bút của vợ mình trên bức tranh, Tuấn Thần kêu xin quan Ngự sử tra xét cho vụ án. Nhờ đó nỗi oan của Tuấn Thần được giải, bọn A Tú bị xử tử. Vợ chồng Tuấn Thần đoàn tụ với nhau.                                                      : 567

2763. PHƯƠNG HOA TÂN TRUYỆN. AN. 86

     Truyện Nôm Phương Hoa thể 6-8: Phương Hoa là con gái quan Ngự sử Trần Diện, Cảnh Yên là con trai quan Thượng thư họ Trương. Gia thần Tào Trung Úy thấy Phương Hoa là người tài sắc bèn đến hỏi làm vợ. Bị từ chối, nên mạo chiếu chỉ nhà vua khép Trương công vào tội vong thần mại quốc, giết ông rồi cướp hết tài sản. Hai anh em Cảnh Tỉnh và Cảnh Yên đưa mẹ chạy về Thạch Thành lánh nạn. Một tháng sau, vợ Cảnh Tỉnh sinh Tiểu Thanh rồi lâm bệnh chết. Bảy năm sau tới kì đại khoa, mẹ con bà cháu họ Trương  trở về quê dò tin tức. Họ nghỉ ở Lôi Dương. Lúc này Phương Hoa vẫn một lòng chờ Cảnh Yên, tình cờ nàng gặp Tiểu Thanh rồi đưa về nhà làm con nuôi, nhờ đấy nàng biết được tình cảnh nhà họ Trương. Nàng đã tìm mọi cách giúp đỡ họ. Một hôm nàng hẹn Cảnh Yên vào lúc canh ba tới nhận quần áo tiền bạc ở góc vườn hoa. Không may bị tên gian Hồ Nghi biết chuyện, hắn đã lén tới chỗ hẹn, giết chết người hầu của Phương Hoa, cướp của. Cảnh Yên tới, vô tình dẫm phải người chết, máu vương khắp người. Chàng bị Trần Ngự sử bắt tống ngục. Quá đau xót, Trương phu nhân qua đời. Phương Hoa thay Cảnh Yên lo việc chôn cất chu đáo, xong xuôi nàng xin cha mẹ cho lên kinh bán hàng, kén chồng. Nhưng sau khi lên kinh, nàng đã ngày đêm ôn luyện văn chương và lấy tên là Cảnh Yên để đi thi. Kết quả nàng đỗ TS. Giữa triều đình, nàng bỏ hết mũ áo cân đai, tâu với vua nỗi oan của gia đình họ Trương và của Cảnh Yên. Tào Trung Úy bị tru di tam tộc. Hồ Nghi bị chém đầu. Cảnh Yên được xét đỗ TS đặc cách cùng Phương Hoa. Hai người chính thức lấy nhau và dẫn nhau về quê.   : 605

2776. QUAN ÂM CHÍNH VĂN TÂN TRUYỆN                  AB. 638

     Truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính, thể 6-8: Thị Kính con gái Mãng Ông, người nước Cao Ly, nhà nghèo, lấy chồng học trò là Sùng Thiện Sĩ. Một hôm học khuya, Thiện Sĩ ngủ thiếp đi bên bàn học. Ngồi may vá cạnh chồng, thấy chồng có chiếc râu mọc ngược, Thị Kính cho là điềm không hay. Sẵn dao trong tay, Thị Kính toan cắt bỏ chiếc râu đó đi. Bỗng Thiện Sĩ giật mình tỉnh dậy, cho là vợ định hại mình, bèn hô hoán lên, thế là Thị Kính bị gia đình nhà chồng đuổi ra khỏi nhà. Bị oan ức, Thị Kính cải trang thành con trai, đi tu ở chùa Văn Tự, pháp danh Kính Tâm. Trong vùng có Thị Màu, con gái một nhà giàu, tính lẳng lơ, lên chùa thấy chú tiểu Kính Tâm, Màu đem lòng say đắm. Trước sự thờ ơ của chú tiểu, Màu không nén được lòng ham muốn, bèn về nhà ăn nằm với người ở trai trong nhà và có mang. Bị hào lý trong làng tra hỏi, Màu đổ tội cho Kính Tâm, vì thế Kính Tâm bị sư cụ đuổi ra ra ở ngoài Tam quan. Ít lâu sau, Màu sinh con trai và đem vứt ra ngoài Tam quan cho Kính Tâm. Thương trẻ sơ sinh, Kính Tâm đã ngày này qua ngày khác đi xin sữa, xin cơn nuôi nấng đứa trẻ. Ba năm ròng như thế, phần vì vất vả, phần vì ưu phiền, oan ức, Kính Tâm đã kiệt sức và chết. Khi khâm liệm Kính Tâm, mọi người mới biết Kính Tâm là phụ nữ. Nỗi oan của nàng từ ấy được giải tỏ. Nàng siêu thăng thành Phật Quan Âm.      : 614

2928. SÁCH MẠNH HỌC BẬC CAO TRUNG HỌC GIÁO KHOA                        AB. 290

     Ngô Giáp Đậu, Đốc học Nam Định diễn Nôm năm 1913.                                       : 691

2973. SƠ KÍNH TÂN TRANG       A. 1390

     Truyện thơ Nôm gồm 1482 câu kể lại mối tình của Phạm Kim và Trương Quỳnh Thư: một người họ Phạm ở Từ Sơn, Kinh Bắc và một người họ Trương ở Kiến Xương, Sơn Nam quen thân nhau, hẹn gả con cho nhau, nếu một bên sinh trai, một bên sinh gái; lại trao gương vàng lược ngọc cho nhau để làm tin. Sau Phạm công sinh con trai, đặt tên là Phạm Kim. Gặp quốc biến, Phạm công tổ chức cần vương, nhưng thất bại. Phạm Kim định tiếp tục sự nghiệp của cha, cũng không thành, đành rong chơi đây đó cho khuây khỏa nỗi lòng. Ở Thú Hoa Dương, chàng gặp Quỳnh Thư, hai người yêu nhau say đắm. Nhưng rồi Quỳnh Thư bị ép gả cho một viên quan Đô đốc ở Kinh kì. Phạm Kim được tin này, đến ngay với người yêu, nhưng cả 2 đều thấy bế tắc. Trương Quỳnh Thư tự tử, còn Phạm Kim bỏ đi tu.

     Sau khi chết, Quỳnh Thư lại đầu thai  vào nhà họ Trương trở thành Thụy Châu. Nàng cải dạng làm trai, giao du rất rộng. Cuối cùng gặp Phạm Kim, họ nhận ra nhau  là có duyên gương lược từ xưa và được Trương công cho phép lấy nhau.                                                   : 712

2983. ĐẶNG MÔN THẾ PHẢ              A. 1063

     Gia phả họ Đặng ở l. An Trung, trấn Sơn Nam: thủy tổ là Nguyễn Gia Doanh, đến đời Nguyễn Đăng mới đổi theo họ ngoại là họ Đặng. Họ này có nhiều người đỗ đạt như Đình Tướng đỗ TS, Đình Trân đỗ CN.

     Do Lê Như Mai ghi năm Duy Tân (1915) : 716.

 

                             HẾT TẬP HAI

3061. TÁI SINH DUYÊN TRUYỆN   VNb .73

     Truyện thơ Nôm, kể lại mối tình giữa Hoàng Phủ Thiếu Hoa với Mạnh Lệ Quân: Thiếu Hoa đã đính hôn với Mạnh Lệ Quân. Lưu Khuê Bích là con trai một nịnh thần không lấy được Mạnh Lệ Quân đã tìm cách làm cho cha con Thiếu Hoa bị tù tội để ép duyên. Mạnh Lệ Quân phải bỏ trốn, giả trai,  lấy tên là Lịch Quân Ngọc, rồi thi đỗ Tam nguyên, được làm Tể tướng. Trong nước có giặc quấy nhiễu, quan Trạng tân khoa Hoàng Phủ Thiếu Hoa được cử đi chiêu an và đánh Cao Li. Chiến thắng trở về, Thiếu Hoa được phong Vương, vua ép chàng lấy Lưu Yến Ngọc. Chàng từ chối và có ý chờ Mạnh Lệ Quân. Thấy chàng thực bụng yêu mình, Mạnh Lệ Quân xin vua tha tội giả trai, và được phong là Quận chúa. Hai người sum họp cùng nhau.

     Chu Ngọc Chi dịch theo nguyên bản chữ Hán, in năm 1928.                                   :  7/III

3108. TẢN VIÊN SƠN NGỌC PHẢ A. 1547

     Đời Hùng Vương thứ 18 ở động Lăng Sương, xứ Sơn Tây có một người tên là Nguyễn Tuấn (sau đổi tên là Nguyễn Huệ, Nguyễn Chiêu). Sau khi cha mất, Tuấn cùng mẹ lên núi Tản Viên ở, gặp được Sơn thần cho cây gậy thần và được Thái tử ở long cung cho cuốn sách ước, nhờ vậy mà Tuấn cứu giúp được nhiều người, được dân chúng tôn là Sơn Tinh. Sơn Tinh về sau lấy Mị Nương, bị Thủy Tinh thù oán, dâng nước lên gây ra lụt lội, Sơn Tinh từng giúp Trưng Vương đánh bại Tô Định.      :32/III

3203. TÂN TẬP HOAN CHÂU THẠCH HÀ TRẢO NHA NGÔ THỊ TRUỀN GIA TẬP LỤC.             A. 3077

     Do Ngô Phúc Lâm biên tập năm Cảnh Hưng 7 (1746), Ngô Phúc Trường tục biên năm Minh Mệnh 18 (1837).                                      : 75/III

3204. TÂN TẬP NGHỆ AN THIÊN LỘC PHÙ LƯU TRƯỜNG NGUYỄN THỊ ĐẠI TÔNG TỔNG KÍ.                                A. 3161

      Gia phả họ Nguyễn ở Phù Lưu Trường, h. Thiên Lộc, từ Nguyễn Văn Giai đỗ Tam nguyên đời Lê Quang Hưng trở xuống. Nguyễn Đông Dương biên tập năm Đồng Khánh (1888)   : 76

3299. THÁI LẠC TRƯỜNG VĂN SÁCH

VHv. 461

     Những bài văn sách do Ngô Tiên Sinh ở Trường Thái Lạc soạn năm Tự Đức 12 (1859): 120.

3318. THANH BÌNH CA ĐIỆU  VHv. 2080

     Bài ca chữ Hán ca ngợi cuộc đời của Phạm Văn Nghị: ông quê l. Tam Đăng, ph. Nghĩa Hưng, đỗ HG dưới triều Nguyễn (1838). Khi Pháp sang xâm lược, Phạm Văn Nghị mộ quân chống lại, vì lực lượng mỏng, không ngăn được giặc, hai ba lần tự tử đều được cứu sống. Sau ông về sống ẩn dật tại hang núi Trường Yên, tự đặt hiệu là Liên Hoa Động Chủ.

     Do Ngô Mạnh Cầu soạn năm Tự Đức 27 (1874), Phạm Văn Nghị duyệt. : 128

3321. THANH CHƯƠNG HUYỆN CHÍ

VHv. 2557

     Đặng Công Luận chép vào năm 1963 theo bản chính. Ngô Ngọc Thiên hiệu đính.   : 130.

3369. THÁNH TÍCH THỰC LỤC  A. 1067

     Sự tích 4 vị thần: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện: nhà sư Khâu Đà La, người nước Thiên Trúc, một lần đi vân du, tới Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), Kinh thành của Sĩ Vương, nơi có nhiều người tu hành và sùng kính đạo Phật.

     Nhà sư được mời về ở nhà một người tu hành, trong nhà có cô gái  hằng ngày rất chăm chỉ và thành kính dâng hương hoa cúng Phật. Nhà sư bèn đặt tên cho cô là Man Nương. Khi từ biệt gia đình Man Nương để vào núi, nhà sư nói rằng: 3 năm sau vùng này sẽ có hạn lớn. Rồi nhà sư lấy chiếc gậy của mình cắm xuống một nơi trong vườn, bảo gia đình Man Nương đào một cái giếng ở chỗ đó để phòng hạn lớn. Được ít lâu, bỗng nhiên Man Nương có mang, qua 14 tháng sinh một bé gái. Gia đình Man Nương mang bé vào núi giao cho Khâu Đà La. Nhà sư đặt tên cho bé là Đà La Tử, rồi hỏi các cây cổ thụ, muốn nhờ cây nuôi giữ hộ. Có một cây tự tách thân ra làm đôi, đón nhận bé gái vào lòng, rồi khép kín lại. Đúng như lời sư nói, 3 năm sau dân thành Luy Lâu gặp hạn lớn, các nguồn nước đều khô cạn, phải đến xin nước giếng nhà Man Nương. Vua biết chuyện, bảo Man Nương kể hết đầu đuôi, rồi sai nàng vào núi tìm nhà sư giúp dân trong thành cứu hạn. Nghe Man Nương truyền đạt lệnh vua, nhà sư ngồi lặng gây lát, bỗng mây đen kéo tới mù mịt, mưa lớn trút xuống. Gió to nhổ bật gốc cây cổ thụ trong đó có đứa bé. Cây cổ thụ theo nguồn lũ lớn trôi về bên thành Luy Lâu. Thấy có tiếng nhạc và vừng sáng tỏa ra từ thân cây, Sĩ Vương sai cưa thân cây ra làm 4 đoạn, tạc thành 4 pho tượng để thờ. Các pho tượng này rất thiêng. Mỗi khi vua sai làm lễ cầu mưa thì lập tức mây đen kéo đến, mưa đổ xuống, lại có sấm và chớp. Vì vậy Sĩ Vương đặt tên cho 4 pho tượng là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện.

     Chép năm Thành Thái Đ. Dậu (1897) : 153

3382. THẨM GIA THẾ PHẢ  A. 758

     Gia phả họ Thẩm ở l. Thổ Linh, h. Gia Lâm: họ này vốn ở TQ, sang VN vào cuối thời Minh.

     Do Thẩm Đức Hoằng đề tưạ và bổ sung năm Minh Mệnh 13 (1832), sao lại năm 1840   : 162

3510. THIÊN HẠ BẢN ĐỒ TỔNG MỤC LỤC ĐẠI TOÀN.              A. 1362

     Tổng mục lục bản đồ VN thời Lê gồm 13 thừa tuyên, 53 phủ, 161 huyện, 9020 xã, 49 châu, 3 làng, 125 phường, 223 thôn, 529 trang, 390 động, 484 sách, 54 sở, 55 trại, 20 vạn, 16 nguyên và 3 tuần.                                     : 223

3537. TIÊN THIÊN KHẢO TRUYỆN  A. 3094

     Khảo về công chúa Liễu Hạnh: bà là con gái Lê Đức Chính và Trần Thị Phúc ở th. An Thái, x. Vân Cát, h. Vụ Bản, t. Nam Định, là một trong số 4 người bất tử (Liễu Hạnh, Tiên Dung, Chử Đồng Tử và Phù Đổng Thiên Vương) : 238

3575. THỊNH QUANG ĐỖ TỘC THẾ THỨ PHẢ KÍ.               A. 799

     Gia phả họ Đỗ ở l. Thịnh Quang, tg Hạ, h. Vĩnh Thuận, ph. Hoài Đức. Họ này vốn là họ Dương ở x. Lạc Đạo, trấn Kinh Bắc.

     Do Đỗ Hi biên tập, Đỗ Đức Liêm, Đỗ Đức Trụ hiệu đính năm Cảnh Hưng 3 (1742). Dương Lập soạn bài tựa năm 1889.                      : 255

3578. THỌ MAI GIA LỄ                VHb. 117...

     Do Hồ Gia Tân hiệu Thọ  Mai soạn. Có tất cả 21 bản in từ năm Tự Đức 4 (1851) cho đến Bảo Đại 14 (1939).                                 : 257

3634. THỦY SƠN HÀNH TẠP SAO   A. 1992

     122 bài thơ, 8 bài văn sáng tác trong dịp đi công cán ở Ninh Bình.

     Ngô Đôn soạn, Nguyễn An Chi phẩm bình. Chép năm Tự Đức 34 (1881).                  : 282

3644. THỤY PHƯƠNG THẦN TỪ  VHv. 2619

     Sự tích Lí Ông Trọng.

     Đỗ Huy Tăng sao lục, Ngô Ngọc Can kiểm duyệt                                                : 287

3802. TỐI LINH HOÀNG ĐẾ TÔN THẦN NGỌC PHẢ LỤC.                            A. 1033

     Thần sắc của x. Độc Bộ, ph. Nghĩa Hưng, t. Nam Định về Triệu Quang Phục: Triệu Quang Phục có nỏ thần, đánh được nhà Lương, xưng đế, tức là Triệu Việt Vương. Lí Phật Tử chống lại Triệu Việt Vương  không được, dùng mưu cho con là Nhã Lang cầu hôn với Cảo Nương (con gái Triệu Việt Vương) rồi ăn cắp nỏ thần và một lần nữa đem quân đánh Quang Phục. Quang Phục thua trận, chạy ra cử Đại Nha và chết ở đấy.

     Do Nguyễn Bính, Hàn lâm viện, Đông các đại học sĩ soạn. Xã Độc Bộ chép lại năm Tự Đức 17 (1864).                                    : 358

3817.TỐNG SỬ LUẬN.    VHv. 94

     Lược sử triều Tống (từ Tống Thái tổ đến Tống Thần tông)...

     Ngô Thế Vinh biên tập và viết bài chí.

3821. TỐNG TRÂN TÂN TRUYỆN  AB. 217

     Truyện Tống Trân-Cúc Hoa, thể 6-8: Tống Trân người h. Phù Hoa, t. Hưng Yên, nhà nghèo, có hiếu, được con gái phú ông đem lòng yêu và nuôi cho ăn học. Tống Trân đi thi đỗ TN, vua định gả công chúa cho, nhưng chàng từ chối, bị bắt đi sứ nước Tần 10 năm. Vua Tần lại ép gả công chúa cho chàng. Ở nhà phú ông ép gả Cúc Hoa cho Đình trưởng. Đúng ngày cưới, Tống Trân trở về được cùng Cúc Hoa đoàn tụ.

                                                            : 368

3879. TRÊ CÓC TRUYỆN.     VNb. 78

     Truyện thơ Nôm 6-8 kể lại vụ án Trê và Cóc: Cóc ra bờ ao đẻ rồi về. Trê thấy đàn nòng nọc giống mình liền đem về nuôi. Cóc ra thăm con, bị Trê quát mắng. Cóc về phát đơn kiện. Trê bị tống giam và tra khảo. Vợ Trê chạy vạy đưa lễ lên quan cho người về điều tra, thấy đàn con giống Trê, liền cho tạm giam Cóc lại. Vợ Cóc được Nhái Bén  khuyên cứ để nòng nọc cho Trê nuôi, đến khi đứt đuôi, chúng sẽ tìm về với bố mẹ chúng. Sự việc diễn ra đúng như lời Nhái Bén nói. Cóc dẫn đàn con lên quan kiện Trê. Bấy giờ quan mới vỡ lẽ. Cóc được kiện, còn Trê bị đày đi xa.                                               : 396

3904. TRÍCH DIỄM THI TẬP  VHv. 2573

     Hoàng Đức Lương  biên tập và đề tựa năm Hồng Đức  28 (1497), Ngô Ngọc Can hiệu đính

                                                          : 407

3910. TRINH THỬ TRUYỆN.             VNb. 79

     Truyện thơ Nôm thể 6-8: một con Chuột Trắng góa chồng, đi kiếm ăn đêm, nghe tiếng chó sủa, chạy vào hang một con Chuột Đực ẩn nấp. Chuột Đực gà gẫm và đem mồi giàu sang ra nhử, nhưng không lay chuyển được lòng kiên trinh của Chuột Trắng. Vừa ra đến cửa, Chột Trắng gặp Chuột Cái là vợ của Chuột Đực đang về hang. Máu ghen nổi lên, Chuột Cái đay nghiến chồng và đến nhà xỉ vả Chuột Trắng. Mèo ở đâu chợt đến, Chuột Trắng chạy thoát

 vào cong gạo, ccòn Chuột Cái sa xuống ao. May có Hồ Sinh đuổi mèo đi, vớt Chuột Cái lên, minh oan cho Chuột Trắng.               : 410

3929. TRÚC ĐƯỜNG CHU DỊCH TÙY BÚT.

A. 1153.

     Ngô Thế Vinh giới thiệu sách Chu Dịch theo lối vấn đáp.                                               : 418

3930. TRÚC ĐƯỜNG PHÚ TUYỂN. A. 128

     Những bài phú của trường Ngô Thế Vinh, đề tài lấy trong Kinh, Truyện và cổ sử của TQ.

     Ngô Thế Vinh soạn, Nguyễn Tuân Nhất biên tập năm Tự Đức Ất Hợi (1875). Có tất cả 15 bản in.                                                            : 418

3931. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN TẬP.VHv.143

     Ngô Thế Vinh soạn, gồm: trướng, đối, liễn, hạ, tấu, biểu, sớ, tụng.                            : 418

3932. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN TẬP TÙY BÚT. VHv. 2329.

     Thủ bút của Ngô Lập Chi (chắt nội Ngô Thế Vinh) chép lại 3 bài thơ của Ngô Thế Vinh từ Trúc Đường thị văn tập.                           : 419

3933. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN THẢO.

VHv. 2352               VHv. 2351

     Văn thơ Ngô Thế Vinh gồm nhiều thể loại, cùng một số tác phẩm của học trò.           : 419

3935. TRÚC ĐƯỜNG TIÊN SINH THI TẬP PHỤ TẠP LIÊN TRƯỚNG.   A. 1641

     Thơ Ngô Thế Vinh: đề tài lấy từ các câu thơ hoặc văn trong sách cổ TQ.                    : 420

3936. TRÚC ĐƯỜNG TRƯỜNG VĂN SÁCH.

VHv 303

     Hơn 130 bài văn sách của học trò trường Ngô Thế Vinh : đề taif lấy từ Kinh, Truyện hoặc cổ sử TQ.

     Hà Nguyên Thung sao chép.                : 420

3937. TRÚC ĐƯỜNG TÙY BÚT.  VHv. 150

     Những đoạn do Ngô Thế Vinh chép từ các sách cổ TQ: Sơn hải kinh, Thượng thư, Hoài Nam Tử, Lễ Kí, Mạnh Tử, Trang Tử, Lã Thị Xuân Thu...  Sau mỗi đoạn chép thường có lời diễn giảng, bình luận, chú thích.              : 421

3940. TRÚC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH. A. 460,   A. 2181

     Những tư tưởng chủ yếu của phái Trúc Lâm. Một số bài kệ. Tiểu sử của ba vị tổ phái Thiền Tông Trúc Lâm: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang.

     Ngô Thì Nhậm soạn. Phan Huy Ích đề tựa năm Cảnh Thịnh Bính Thìn (1796).

3948. TRUNG HỌC VIỆT SỬ BIÊN NIÊN TOÁT YẾU.                            A. 328

     Tóm lược lịch sử Việt Nam từ Hồng Bàng đến Gia Long.

     Ngô Giáp Đậu soạn, Đỗ Văn Tâm nhuận chính.                                                  : 425

3949. TRUNG HỌC VIỆT SỬ TOÁT YẾU

     Ngô Giáp Đậu biên soạn, Phạm Văn Thu duyệt, Đoàn Triến, Phạm Văn Thụ, Cao Xuân Dục đề tựa. In lần đầu 1911. Có 22 bản in.

VHv. 987/11-4...                               : 426

3960. TRÙNG KHẮC TÂM ĐĂNG KẾ TRUYỀN

     Sự hình thành của thế giới gồm 9 kiếp. Kiếp thứ nhất: từ hư không cho đến khi có trời đất. Kiếp thứ hai: có nước, lửa, mặt trời, mặt trăng, bát quái. Kiếp thứ ba: có thái dịch, thái sơ, thái thủy, thái tố, thái cực, trời biến thành 36 tầng, đất cũng có 36 tầng. Kiếp thứ tư: có Bàn Cổ. Bàn Cổ chết, hóa ra vạn vật. Kiếp thứ năm: xuất hiện Tam Hoàng tức Thiên Hoàng, Nhân Hoàng, Địa Hoàng. Kiếp thứ 6: có Ngũ Đế là Nguyên Thủy Thiên Tôn, Hư Hoàng Đại Đạo, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân, Cù Vân Đại Sư. Kiếp thứ bảy: Thích Ca ra đời. Kiếp thứ 8: Thích Ca Mâu Ni thành Phật. Kiếp thứ 9: Thích Ca giảng về Phật pháp.

3964. TRÙNG TƯƠNG TÂN LỤC    AB. 492

     Truyện Tư Mã Mạo: chàng tên Trùng Tương, người đời Hán, học giỏi, thi không đậu, lại gặp lúc gia biến, phẫn chí, làm thơ văn có câu xúc phạm đến Thiên Đình. Trời sai Diêm Vương bắt Trùng Tương xuống Âm Ti để thử tài bằng cách cho xử các vụ kiện như Hàn Tín kiện Bái Công, Hạng Võ kiện 6 tướng, két quả việc nào cũng được Trùng Tương xử đâu ra đấy. Tư Mã Đạo do vậy được tha về trần gian, sau đầu thai thành Tư Mã Ý.                                               : 435

3979. TRỪNG KHÊ THI VĂN TẬP  VHv. 268

     Ngô Thạc Phủ, hiệu Ngọc Phong soạn năm 1863 (Tự Đức Quí Hợi).                           : 443

3989. TRƯƠNG VIÊN DIỄN CA. VNb. 80

     Vở chèo Trương Viên: Trương Viên, một học trò nghèo, quê ở Vũ Lăng. Mẹ chàng già yếu. Vợ chàng là Phương, con quan Thừa tướng. Trương Viên theo lệnh vua đi dẹp giặc xa. Ở nhà giặc đến, Phương phải dắt mẹ vào rừng lánh nạn. Chẳng may mẹ bị đau nặng, Phương phải khoét hai mắt của mình để cúng thần, cứu mẹ thoát chết. Sau đó nàng được Tiên Nga dạy cho nghề đàn hát, hai mẹ con dắt díu nhau đi hát rong kiếm sống. Tình cờ một hôm, Phương và mẹ đến nơi Trương Viên đóng quân, Trương Viên cho mời Phương vào hát. Mẹ con vợ chồng lúc này mới gặp nhau. Trương Viên đưa ngọc lưu li là kỉ vật ngày hai vợ chồng mới lấy nhau cho Phương xem, bỗng nhiên hai mắt của Phương lành lại như cũ. Gia đình từ đấy đoàn tụ. Trương Viên được vua phong là Tướng quốc Nguyên nhung, còn Phương được phong nhất phẩm phu nhân.                                     : 449

4000. TRƯỚNG HẠ BI KÍ HÀNH TRẠNG TẠP VĂN.                                        A. 2909

     Sự tích hai công thần triều Lê: Ngô Công Bảo và Mai Xuân Bảng.                       : 454

4022. TÙNG HIÊN BẢO QUANG NGÔ TỬ VĂN TẬP.                                              A. 2144

     43 bài văn, thơ của Ngô Đình Thái (tự Bảo Quang, hiệu Tùng Hiên) làm hộ người khác: 463

4023. TÙNG HIÊN TẬP.          VHv. 1469

     87 bài  văn của Ngô Đình Thái.           : 463

4204. TÙNG HIÊN TRƯỚNG SÁCH VĂN

             A. 530

     35 bài văn sách của Ngô Đình Thái.    : 463

4032. TÙY THỜI ĐẠI NGHIỆP BI VĂN.

VHv. 2369

     Nguyễn Nhân Khí   Hà Nam soạn năm Tùy Đại Nghiệp Mậu Dần.

     Viên mục xã Phù Liễn chép lại vào năm  Vĩnh Khánh Tân Hợi (1731), Chu Văn Liên chép lại vào năm 1952.

     Tú tài Ngô Bá Chuẩn ở Phù Liễn sao lại vào năm Thiệu Trị 2 (1842).

     Bài văn bia ở đền x. Phù Liễn, tg. Thạch Khê, h. Đông Sơn, ph. Thiệu Hóa, t. Thanh Hóa: tài học và sự nghệp của viên quan cai trị Châu Ái dưới thời thuộc Tùy.               : 467

4046. TUYẾT TRAI THI TẬP        A. 1854

     161 bài thơ dùng làm mẫu cho người học làm thơ, do Ngô Thời Ức soạn.                 : 475

4047. TƯ HƯƠNG VẬN LỤC.         A. 699

     66 bài thơ của Lê Quang Bí gửi gia đình trong 19 năm ông đi sứ TQ, bắt đầu từ năm Gia Tĩnh 33 (1554).                                        : 476

4137. TƯỜNG TỘC PHẢ KÍ.           A. 1642

     Gia phả họ Tường, vốn là họ Đỗ, ở x. Bối Khê, h. Khoái Châu, Hưng Yên. Từ thủy tổ trở xuống có 12 đời.

     Tường Duy Quý soạn, Tường Vĩnh Tuy chép năm Khải Định 2 (1917).                        : 515

4161. VẠN PHƯƠNG TẬP NGHIỆM. A. 1287

     100 bài thuốc gia truyền, do Ngô Tỉnh tự Văn Tỉnh, hiệu Trấn An soạn, Nguyễn Nho hiệu chỉnh, Nguyễn Địch sao lục. Bài tụa đề năm Cảnh Hưng Canh Ngọ (1762).                  : 529

4172. VĂN DUYÊN DIỄN HÍ.      AB. 280

     Vở tuồng diễn sự tích Văn Duyên (Đoan): Văn Duyên tên thật là Lía, người Qui Nhơn, mồ côi cha từ nhỏ, rất thương mẹ, hay bắt trộm gà vịt mang về cho mẹ. Mẹ Lía không đồng tình, răn dạy nhiều lần, đem Lía giao cho thầy học, nhưng Lía bỏ học. Sau Lía cùng với Hồ và Nhẫn vào rừng lập hội “Anh hùng hảo hớn”, thường cướp của kẻ giàu chia cho người nghèo.

                                                           : 535

4175. VĂN ĐẾ CỨU KIẾP CHÂN KINH DIỄN ÂM.                            AN. 141

     Ngô Vi Lâm diễn Nôm theo thể thơ 6-8, cuốn Văn Đế cứu kiếp chân kinh của TQ.  : 536

4223. VÂN CÁT LÊ GIA NGỌC PHẢ. A. 3181.

     Gia phả họ Lê ở th. Vân Cát, x. An Thái, h. Vụ Bản: thủy tổ là Lê Tư Vinh, con thưs 5 của Lê Bang Cơ (Nhân tông). Sau khi họ Mạc cướp ngôi vua Lê, Tư Vinh chạy về thôn Vân Cát, lấy vợ là Trần Thị Thục, sinh Tư Thắng. Thắng sinh Giáng Tiên, tức là Công chúa Liễu Hạnh.

     Hương cống Nguyễn Quốc Trinh biên soạn năm Vĩnh Tộ 5 (1623). Sao chép lại  năm Bảo Đại 15 (1940).                                      : 556

4224. VÂN CÁT THẦN NỮ CỔ LỤC. A.1927

     Sự tích vị nữ thần ở th. Vân Cát, h. Vụ Bản  thời Lê Anh tông: nữ thần tên thật là Giáng Hương, lấy một người họ Đào, sinh được 1 trai, 1 gái. Năm 21 tuổi, Giáng Hương chết. Sau lại đầu thai  lấy một người họ Lưu (chính là người chồng cũ, cũng đầu thai), sinh thêm 1 gái. Người chồng thi đỗ TS, làm quan ở Viện hàn lâm. Sau khi mất, Giáng Hương rất linh thiêng, nhân dân lập đền thờ ở Phố Cát.            : 556

4328. VIỆT SỬ TIÊU ÁN.          A. 11 ...

     Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ soạn: bình luận về một số sự kiện lịch sử VN từ Hồng Bàng cho đến cuối Trần. Sau được đưa vào Đại Việt sử kí in thời Tây Sơn.                                       : 616

4340. VĨNH GIA THÁM HOA PHAN KÍNH TRUYỆN.      VHv. 1352.      MF. 1842

     Tiểu sử, hành trạng của Phan Kính: ông húy

Sưởng, tự Dĩ Trực, hiệu Tĩnh Trai, quê ở th. Vĩnh Gia, h. La Sơn, t. Hà Tĩnh, đỗ TH (1743), được nhà Lê trọng dụng, cho làm Đông các học sĩ lúc 37 tuổi. Sau khi mất được phong làm Phúc Thần Đại Vương.                            : 622

4355. VỊNH SỬ THI QUYỂN.  A. 849.

     334 bài thơ đề vịnh thắng cảnh, danh nhân,...

Bản trên có ghi chú như sau: “Sách gia đình họ Bùi; còn một tên nữa là “Tứ hổ, An Nam tứ đại tài”, gồm Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Trác Luân, Nguyễn Bá Lân, Ngô Tuấn Cảnh” : 630

4361. VŨ DÙ THỊ TIÊN SƯ DI SỰ KHẢO.

A. 1161,  MF. 1614

     Sự tích Bùi Quốc Khải, người x. Quất Động, tg. Bình Lăng, h. Thượng Phúc, ph. Thường Tín, trấn Sơn Nam, có công dạy dân các làng Đô Quan,Tam Xá, Phi Dương,Vũ Lăng và Hương Giải làm dù. Tương truyền trong chuyến đi sứ TQ vào đời Lê Thái tông (1343-1442), Bùi quốc Khái được triều đình nhà Minh thử tài  bằng cách cho ở trong một gian nhà trên gác đã bị lấy mất cầu thang. Bùi quốc Khái phát hiện ra trong nhà có một tượng Phật, một lò hương, một bát nước sạch và 2 chiếc dù. Nhanh trí cho rằng, Phật chả lẽ bày vô cớ, ông tách đôi Phật ra, thấy có nhiều bột mì để bên trong. Có bột mì, có lò hương, có nước sạch, thế là đã có cái duy trì cuộc sống. Ông quan sát kĩ 2 chiếc dù, đặc biệt là cách làm ra nó, rồi cầm mỗi tay một chiếc, nhảy xuống sân nhà một cách an toàn. Sau khi về nước, ông truyền lại kỉ thuật làm dù cho địa phương, được dân tôn thờ ông làm tiên sư. : 633

4403. VŨ THỊ GIA PHẢ.                  A. 2941

     Gia phả họ Vũ ở ph. Thiệu Hóa, t. Thanh Hóa, bắt đầu từ thủy tổ là Vũ Uy, người Chiêm Thành theo vua Lê Thái tổ đánh quân Minh lập  nhiều chiến công, được ban quốc tính.       : 654

4436. XUÂN THU QUẢN KIẾN.  VHv. 806

     Lời bình của Ngô Thì Nhậm về các sự kiện chép trong sách Xuân Thu. Soạn năm 1786: 673

4447. XƯỚNG KHÚC TẬP THI.   AB.195

     Một số bài hát ả đào....

     Nam Dương Ngô Đình Thái, tự Bảo Quang, hiệu Tùng Hiên  soạn.                     : 679

4513. YÊN ĐÀI THU VỊNH.       A. 1697

     Thơ văn Ngô Thì Nhậm làm trong thời gian đi sứ TQ (1793).

     Tùng Hiên hiệu duyệt, Thận Trai biên tập, Thì Trí sao chép.                                : 714

 

 

 

DI SẢN HÁN NÔM VIỆT NAM THƯ

            MỤC ĐỀ YẾU

   NXB KHOA HỌC XÃ HỘI 1993

 THƯ VIÊN QUỐC GIA: VV 353/93                     

              VV356/93

 

                  TẬP MỘT

16. AN NAM HÀ TIÊN THẬP VỊNH A.441

      Mười thắng cảnh Hà Tiên: Kim dữ lan đào (Đảo vàng chắn sóng), Bình sơn điệp thúy (Bình sơn núi biếc), Tiêu tự hiểu chung (Chuông sớm chùa Tiêu), Giang Thành dạ cổ (Trống đêm Giang Thành), Thạch Động thôn vân (Thạch Động ngậm mây), Chu Nham lạc lộ (Cò đậu Chu Nham), Đông Hồ ấn nguyệt (Trăng rọi Đông Hồ), Nam Phố trưng ba (Sóng yên Nam Phố), Lộc Trỉ thôn cư (Thôn cư Lộc Trỉ) và Khê ngư bạc (Thuyền đậu Lư Khê).

93. BÁI DƯƠNG NGÔ THẾ VINH KINH HỒI TIỄN HÀNH.               A. 2639

     Thơ của bạn bè, học trò...tiễn Ngô Thế Vinh về quê dưỡng lão.

     Dươngg đình Ngô Thế Vinh biên tập.    : 56

94. BÁI DƯƠNG NGÔ TIÊN SINH THI TẬP  A.2449.

     350 bài thơ của Ngô Thế Vinh  dùng làm khuôn mẫu cho học trò và 350 bài thơ luyện thi ở trường Ngô Thế Vinh.                    : 56

95. BÁI DƯƠNG THI TẬP.              VHv. 142  

     382 bài thơ của Ngô Thế Vinh làm trong 2 năm 1841-1842, gồm thơ thuật sự, vịnh sử, cảm hoài,...                                                  :57

96. BÁI DƯƠNG THƯ TẬP.          VHv. 139 

     Tập văn của Ngô Thế Vinh, gồ thư từ trao đổi với đồng liêu, bạn bè, câu đối, văn mừng,..

Văn bia 12 đời vua Trần, văn bia nhà thờ họ Đoàn, họ Đào,...                                : 57

103. BẢN QUỐC DỊ VĂN. A. 3178 , A.3197

     30 truyện lạ, gồm truyện dân gian; truyền thuyết lịch sư; giai thoại, truyền thuyết về các nhân vật lịch sử. Trong phần sau cùng này,có bài viết về Ngô Tuấn Cung.                : 62

     (Dân gian có câu: Tuấn Cung, Tuấn Dị hữu nhị vô tam).

234. CHIẾU BIỂU PHÚ HỢP TUYỂN          VHv. 1926

       Đầu đề 3 kì thi Hội năm Ất Sửu (1965); một số bài văn sách, thơ phú của những người thi đỗ, trong đó có Ngô Văn Phát.

262. BÌNH VỌNG NGUYỄN THỊ GIÁP PHÁI GIA PHẢ.               A. 634

     Gia phả chi Giáp của họ Nguyễn l. Bình Vọng, h. Thượng Phúc, ph. Thường Tìn. Chi này vốn trước là họ Lê.

     Do Kính Trai Nguyễn Thức biên  tập, Ngọc Đường Nguyễn Dư hiệu chỉnh năm 1828, Tùng Hiên Nguyễn Triết Huân viết tựa 1829    :157.

279. BỒI TỤNG CÔNG VĂN TẬP  A. 527

     Cựu văn ban Ngô Trọng Khuê biên tập. Thơ văn của Ngô Duy Viên (tức Ngô Trọng Khuê), làm quan Bồi tụng cuối đời Lê, gồm: thơ dạy con, tuyệt bút, tiễn bạn bè....                : 165

295. BÚT HOA TÙY LỤC.          A. 2690

     Hương Thụ Sơn Nhân biên tập năm 1893.

     Văn thơ mừng Nguyễn Đỉnh Thần đỗ TS (1892) của những người trong họ trong thôn, họ ngoại và của: Hoàng Cao Khải, Ngô Quang Huy, Bùi Hướng Thành,...                  : 174.

        (Có lẽ là Nguyễn Đĩnh: La Chử, Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế)

340. CẢM ỨNG THIÊN GIẢI ÂM.  AN. 116

     Gồm nguyên văn chữ Hán và bản dịch Nôm của Ngô Văn Bỉnh, hiệu Cúc Hòe.    : 199

376. CẢO PHONG CÔNG THI TẬP. A. 516

     Thơ văn của Ngô Duy Viên làm chức Bồi tụng vào cuối thời Lê. Có thơ tiễn Lê Quí Đôn đi làm Tuần phủ Thuận Hóa, thơ tặng Bùi Huy Bích. Nhiều bài làm dưới thời Quang Trung: biểu tạ ơn khi được triệu vào Phú Xuân,..  : 225

454. CHIÊU QUÂN CỐNG HỒ TRUYỆN

                 VNb.  70

     Truyện thơ Nôm 6-8, chia thành 40 đoạn, kể lại chuyện Chiêu Quân: nàng nguyên tên là Vương Tường, con gái viên quan Tri phủ họ Vương ở Việt Châu, có nhan sắc, lại có tài thi họa, được đón vào cung làm Vương phi. Quan Khâm sai Mao Diên Thọ hận vì không được cha con họ Vương trọng đãi, đã tìm cách làm hại, buộc Hán Nguyên Đế phải đem nàng cống cho vua Phiên. Trên đất Hồ, Chiêu Quân đã khéo léo mượn tay vua Phiên để diệt tên phản thần Mao Diên Thọ, và thả các tướng Hán đang bị Phiên giam giữ. Nàng lại yêu cầu vua Phiên bắc cho chiếc cầu nổi, nói là để tế thần Bạch Dương. Sau lễ tế, Chiêu quân đã từ trên cầu gieo mình xuống sông tự tử, giữ trọn tiết trinh. Em gái nàng, Trại Chiêu Quân, được Tiên ban cho phép lạ, lại được tuyển làm Chánh cung, đem quân đánh Hồ, báo thù cho chị và rửa hận cho nhà Hán.                                  : 267

526. CHƯ ĐỀ MẶC.         VHv. 18

     Trong tập thơ văn đề vịnh này, có Nhị Thanh động mặc tích gồm thơ, phú, bi kí về động Nhị Thanh ở Lạng Sơn. Bài tán về bức tranh truyền thần và bài phú động Nhị Thanh của Ngô Thì Sĩ.                                                         : 310

552. CỐ LÊ TẢ THANH OAI TIẾN SĨ NGÔ THÌ SĨ CÔNG THI SAO=CỐ LÊ NGỌ PHONG MẶC NGẤN.         VHv. 21

     Gồm 3 tác phẩm:  1. Nhị Thanh thi văn tập

2. Quan lan tập 3. Vọng triều tập.   : 325

564. CỔ KIM TRÙNG TÍNH TRÙNG DANH KHẢO.                           VHb. 271

      Bảng tra các nhân vật lịch sử trùng họ, trùng tên từ xưa cho đến thời cận đại. Dưới tên mỗi người có ghi rõ quê quán, thời đại, chức tước.

     Đặng Xuân Khanh, hiệu Mai Phong  biên tập.                                                           :336

597. CÚC ĐƯỜNG BÁCH VỊNH THI TẬP.   A. 1168

    Trong đó có thơ xướng họa giữa Ngô Thì Nhạm và Phan Huy Ích.                         : 355

609. CÚC THU BÁCH VỊNH TẬP.   A. 1554

     100 bài thơ xướng họa giữa Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm trong dịp tết Trùng Dương:362.

637. CỨU SINH TRỊNH THÁNH TỔ SỰ TÍCH.  VHv. 2946.   

     Sự tích Hòa thượng Trịnh Hợp: ông tên húy Như Như, tên hiệu là Lân Giác, người Sóc Sơn, Vĩnh Phú là con thứ 11 của Tham tể Tấn Quang Vương. Trịnh Hợp sinh năm 1696, lớn lên rất thông minh, tuấn tú, được vua Hy tông gả Công chúa. Nhưng ông bỏ di tu ở chùa Yên Tử. Sau trở thành Bồ Tát.                                     : 374.

 666. DANH HỔ KHIẾU ĐỘNG SAN THÀNH LƯU ĐỀ THẠCH BÍCH THII TỊNH KÍ =HỒ KHIẾU ĐỘNG ĐỀ THI TỊNH KÍ.

 VHv. 1787 

     Có bài kí của Ngô Thúc Hựu đề ở động Hồ Khẩu, trên núi Hổ, h. Vụ Bản.               : 392

695. DAO ĐÌNH THI TẬP.               A. 1852

     Trong đó có Quan Lan Sào thập cảnh gồm 129 bài thơ của Ngô Thì Sĩ và một số người khác đề vịnh các thắng cảnh ở x. Cự khánh, h. Đông Sơn, Thanh Hóa.                        : 407       

701. DI ÁI XÃ TRẦN GIA PHẢ KÍ. A.681

     Hành trạng Trần Mô: ông nội Mô là Trần Thánh Ca, người Phúc Kiến, TQ, tránh loạn đời Thanh đến x. Di ái, h. Dan Phượng làm nghề dệt gấm. Trần Mô đỗ TS năm 1733, làm Đông các Đại học sĩ.                                     : 410

708. DI TRẠCH ĐƯỜNG PHẢ KÍ.   A. 1294

     Gia phả 6 đời họ Nguyễn Huy ở x. Phú Thị, h. Gia Lâm, có thơ văn của Nguyễn Huy Cận.

     Tiền quân Văn hầu Nguyễn Huy Doanh, biên tập, Viên Am Nguyễn Huy Quýnh hiệu đính,  Ngô Quế Hương viết tựa từ 1802-1804.

746. DU HƯƠNG TÍCH ĐỘNG KÍ.  A. 2814

     Trong đó có: Du Hương Tích động thi tập: do  Án sát  Hà Nội Đặng Lương Hiên soạn, Nguyễn Chí Đình phẩm bình, TS Nguyễn Tùng Thúc phê duyệt, TS Ngô Tham bình luận.  : 431

782. DƯƠNG ĐÌNH PHÚ LƯỢC.   VHv. 430     

     Những bài phú của Ngô Thế Vinh và các tác giả khác như Đỗ Phát, Ngô Bảo Phong, Phạm Vĩ, Dặng Huy Trứ...                             : 451

783. DƯƠNG ĐÌNH PHÚ PHẢ.       A. 1607

     65 bài phú của Ngô Thế Vinh, dùng làm mẫu cho lối văn thi cử.                         : 451

784. DƯƠNG ĐÌNH TANG SỰ THI TRƯỚNG ĐỐI LIÊN TẬP.                       A.1243

     Thơ, văn tế, văn đối sử dụng trong dịp lễ tang của thân phụ, thân mẫu, anh cả (tên là Tùng Hiên), con trưởng (tên là Ngô Thế Quý) của Dương Đình.                                

     Môn sinh, CN Vũ Doãn Khải biên tập:   451

785. KHẤP VÃN DƯƠNG ĐÌNH THI TRƯỚNG TẬP.                       A. 1302

     Thơ, trướng văn, câu đối, văn tế, ...của đồng liêu, bạn hữu, đồng tộc khóc Ngô Thế Vinh, trong đó có những tác giả như Đỗ Trọng Khiêm, Nguyễn Văn Đạo, Nguyễn Giang Hiên, Giám Hồ, Ngụy Khắc Tuần, Phạm Văn Nghị, Nhữ Bá Sĩ, Hà Tông Quyền,..            : 452

811. ĐẠI ĐIÊN THÁNH SỰ TÍCH.   A. 2721

     Sự tích thánh Đại Điên ở th. Tiền, x. Dịch Vọng, h. Từ Liêm: Ông tên húy là Lê Nghĩa, một nhà sư triều Lý, đạo thuật rất tinh thông, có công giúp vua. Sau khi  mất, ông được phong là Lê Đại Điên Giác Hoàng Thiền Sư và đượcc dân x. Dịch Vọng lập đền thờ.

     Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc thứ nhất (1572), Nguyễn Hiền phụng sao năm Vĩnh Hựu 3 (1737). Chép lại vào năm Duy Tân 9(1915):466

825. ĐẠI MỖ NGUYỄN TỘC TÂM ĐẠI VƯƠNG PHẢ KÍ. VHv. 1337, VHv. 1338

      Trong đó có  Thám hoa quốc lão trí sĩ Thái tể đại vương phả kí do Hà Tông Huân, Nghiêm Bá Đĩnh soạn năm Vĩnh Hựu 2 (1936) ghi về hành trạng của Nguyễn Quý Đức.         :  473

871. ĐẠI NAM QUỐC TÚY.           AB. 178

     1800 câu phương ngôn, tục ngữ, xếp thành 46 bài (mục). Ngoài ra còn có khoảng 600 câu ca dao.

      Tam Thanh Hiếu liêm Ngô Giáp Đậu biên tập năm Duy Tân 2 (1908).                  : 500

911. ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TIỀN BIÊN. A.2/1-7

     Ngô Thời sĩ biên soạn. Khắc in năm Cảnh Thịnh 8 (1800).                              : 525

953. ĐẶNG PHẠM TỘC GIA PHẢ. A. 3043

     Gia phả 10 đời của họ Đặng Phạm ở l. Từ Liêm. Họ này trước là họ Phạm, đến đời thứ 3, An Trung đổi thành Đặng.                       : 550

1011. ĐIỆN THỪA LIÊN KHÊ CÔNG NIÊN PHẢ.                        A. 1005

     Tiểu sử của Nguyễn Liên Khê: tổ tiên nguyên họ Lê, đến đời Nguyễn Hữu Đăng đổi thành họ Nguyễn, ở Phường Phúc Bồ, ph. Phụng Thiên. Liên Khê từng đỗ Điện thí, làm Cổ Pháp  điện Tự thừa.                         : 575

1114. ĐÔNG ĐỒ XÃ NGÔ GIA PHẢ KÍ.

A. 1487

     Gia phả  6 đời của họ Ngô ở x. Đông Đồ, h. Đông Anh. Họ này vốn ở th. Xuân, x. Đồng Bàng, h. Yên Định, ph Thiệu Thiên, xứ Thanh Hóa, có Ngô Tây, Ngô Kinh, Ngô Từ là công thần triều Lê.                                     : 626

1128. ĐÔNG NGẠC NGUYỄN TỘC THẾ PHẢ.                        A. 1434,  A. 652

     Gia phả họ Nguyễn ở x. Đông Ngạc, h. Từ Liêm: thủy tổ là Đào Quý Công hiệu Thủ Phận, TS triều Lê, quán x. Phù Đỗng, h. Tiên Du, trấn Kinh Bắc, con thứ của Phò mã Đào Tướng công, vì gia biến, chuyển tới l. Nguyệt Áng, h. Thanh Trì, đến đời Phú Khiên, chuyển về Đông Ngạc, đổi thành họ Nguyễn.

Bài tự làm năm Kiến Phúc thứ nhất (1884): 633

1324. HÀN CÁC ANH HOA=NGÔ GIA VĂN PHÁI HI DOÃN CÔNG TẬP.    A. 2170

     20 bài khải, chiếu, biểu của Ngô Thì Nhậm soạn vào cuối Lê và thời Tây Sơn.          : 746

1328. HÀN CÁC VĂN THỂ TRÌNH THỨC.

 A. 281

     Những bài văn trúng cách trong các khoa thi Hội đời Lê. Mỗi bài đều có ghi tên người soạn, như Phạm Khiêm ích, Vũ Công Trấn, Nguyễn Công Thái, Hà Tông Huân, Ngô Bật Lượng, Hoàng Nghĩa Phú, Bùi Cầu, Đào Nghiễm.: 749

1369. HIỆN KIM BẮC KÌ CHI ĐỊA DƯ SỬ.

A. 398

     Lịch sử Bắc Kì và địa dư 2 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng), 2 đạo (Hà Dương, Lai Châu) và 25 tỉnh thuộc Bắc Kì.

     Giáo thụ phủ Hoài Đức  Ngô Giáp Đậu biên soạn.                                            : 773

1431. HOAN CHÂU PHONG THỔ KÍ

       VHv. 1719               VH v. 1458  

     Địa lí Nghệ An, do Đốc Đồng Nghệ An là Trần Danh Lâm soạn.

     Bản VHv. 1719 còn có  Đông Thành phong thổ kí của Ngô Trí Hiệp soạn.            : 810

1432. HOAN CHÂU PHONG THỔ THOẠI

     VHv. 1376

     Trong đó có Nghệ An phong thổ kí  do Bùi Dương Lịch soạn. Có 42 bài thơ vịnh  phong cảnh Nghệ An cử Ngô Thời Phùng, Lê Hồng Phổ, Trần Thức Cốc, Đỗ Phúc Ngũ,        : 812

1439. HOÀNG CÁC DI VĂN.   A. 2137

     Văn kiện nhà nước thuộc 3 triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị.

     Ngô Thế Vinh biên tập và viết tựa  năm Thiệu Trị 7 (1847).                              : 818

1441. HOÀNG CHIÊM ĐỊA LÝ CẢO. A. 458

     126 hình vẽ các kiểu đất quý của các địa phương trong nước.

     Hoàng Chiêm tức Nguyễn Đức Huyền, hiệu Phú Hưng, người l. Tả Ao, h. Nghi Xuân : 821

1447. HOÀNG HOA ĐỒ PHẢ.   A. 2871

     115 bài thơ của Ngô Thì Nhậm làm trong dịp đi sứ TQ năm Quý Sửu (1793) để báo tang Quang Trung và cầu phong cho Quang Toản   

                                                :824

1492. HOÀNG VIỆT LONG HƯNG CHÍ. A.23

     Tiểu thuyết lịch sử 34 hồi, nói về quá trình xây dựng cơ  nghiệp của  nhà Nguyễn, kể từ Nguyễn Kim phò Lê chống Mạc cho đến khi Gia Long đánh Tây sơn, bắt đượcc Quang Toản, lập nên triều Nguyễn.                   :  851

1501. HOÀNG VIỆT THÁI PHÓ LƯU QUÂN MỘ CHÍ.          A. 1027

     Soạn năm Thiên Thuận 3 (1130).

     Mộ chí của hai anh em Lưu Khánh Đàm và Lưu Khánh Ba, người th. Yên Lãng, quận Cử Chân, đều kês nhan làm chức Thái phó triều Lí, khi mất được phong làm Thành hoàng.

     Bài văn bia do Ngô Thế Vinh soạn năm Tự Đức 8 (1955).                                 :    856

1512. HOẠT NHÂN BỊ YẾU.     A. 2798

     Phú, Luận, ca nói về  phép chẩn mạch, xét khí sắc con người, tính chất và cách thức dùng một số thuốc Nam, Bắc..             : 862

1561. HÙNG TRIỀU NGÔ TƯỚNG CÔNG SỰ TÍCH VĂN.        AB. 359

      Bài văn chầu kể sự tích Ngô Long, con một thầy lang người TQ đời Tần, lánh nạn sang l. Thanh Qua, h. Thanh Oai, có tài văn võ, giúp vua Hùng thứ 18 dẹp giặc, được phong tặng Thượng Trụ Quốc Công.                        : 893

1591. HƯƠNG MẶC XÃ NGÔ TỘC GIA PHẢ.                          A. 675

     Gia phả  do cháu nhĩ tôn Nguyễn Trọng Quýnh, tự Đạo Hiên biên tập năm Mậu Ngọ 

                                                            : 909 

               HẾT TẬP MỘT

 

1622. KHẢI ĐỊNH NGỰ GIÁ NHƯ TÂY THI TẬP           VHb. 2

      Có nói tới con cháu Nguyễn Văn Chấn (Dayot), Nguyễn Văn Thắng (Vannier), Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine)       : 5

1624. KHẢI TIẾN THI BIÊN A.1226

     Ngô Đôn biên tập, Nguyễn An Chi duyệt bình. 112 tr.                                   : 7

1645. KHẢO XÍCH ĐẠC BỘ PHÁP

VHv  2556

     Ngô Thế Vinh biên tập, chép lại năm Hàm Nghi 1 (1885). Khảo cứu cách đo đạc bằng thước và bằng bộ (bước chân) từ thời Hoàng Đế, Hạ, Thương, Chu đến Hán, Đường, Tống                         : 18

1679. KHỔNG LỘ, GIÁC HẢI NHỊ THÁNH TỔ SƯ                A. 2961

     Sự tích hai vị thánh tổ Khổng Lộ và Giác Hải: Khổng Lộ tức Nguyễn Chí Thành người l. Đàm Xá, h. Gia Viễn, t. Ninh Bình.

     Giác Hải tức Nguuyễn Quốc Y người, h. Hải Thanh, h. Giao Thủy, t. Nam Định . Hai người cùng sang Tây Trúc học đạo và kết bạn với Từ Đạo Hạnh. Về nước, Khổng Lộ chữa khỏi bệnh cho Lý Thần tông, được phong là Quốc sư, Giác Hải trừ được Mộc Tinh, được ban họ vua.                    : 35

1684. KHÚC GIANG NGÔ DƯƠNG ĐÌNH VĂN TẬP    A. 803

1691. KHƯƠNG CÔNG PHỤ SỰ TRẠNG KHẢO               A. 2912       MF. 1549

     Khương Công Phụ, tự Văn Khâm, người phường Cổ Hiểm, h. Cửu Chân, châu Ái, đỗ TN đời Đường, làm Tể tướng đời Đường Đức Tông, sau bị truất làm Biệt giá ở Tuyền Châu, đến đời Thuận Tông lại được bổ làm Thứ sử ở Cát Châu và bị bệnh chết ở Tuân Hóa thuộc Khâm Châu. Tại đó hiện có đền thờ ông.               : 42

1706. KIẾN SƠN SÀO THI VĂN TẬP

VHv 258/ 1-3

     Huyền Đồng Tử (Ngô Quý Đồng) soạn năm Tự Đức 4 (1851) gồm khoảng 750 bài thơ, 40 bài văn.   Có bài kí nói  về nước Việt Nam muốn đuổi kịp các nước văn minh thì phải bỏ lối học khoa cử cũ, mà phải học khoa học, học thực tế                                                       : 49

1708. KIẾN VĂN LỤC VH 1155 MF. 2411

     Vũ Trinh (1739-1828) hiệu Nguyên Hanh biên tập, trong đó có một số thần thoại hoặc truyền thuyết: Hồn Trương Ba da hàng thịt..

     Phần cuối có Tây Sơn thực lục tóm tắt triều Tây Sơn.                                        : 51

1716. KIỂU ĐẠI VƯƠNG THƯỢNG ĐẲNG THẦN KÝ LỤC                   A. 2625

     Ngô Thế Vinh biên tập, Ngô Đình Thái chép sự tích Kiều Công Hãn, quê Phong Châu làm Đề sát giám quốc sự thời Ngô, sau chiếm giữ Thai Châu, Hào Châu và Phong Châu, xưng là Kiểu Tam Chế, một trong số 12 sứ quân. Sau khi mất, được dân làng lập đền thờ.       : 55

1737. KIM NGỌC QUYỂN  AB. 152 MF.1830

     La Khê tiên sinh soạn (có lẽ là người họ Ngô), Thạch Viên chủ nhân  chú giải về hơn 400 bài thuốc chữa bệnh người lớn và trẻ em.

1740. KIM SƠN GIA PHẢ          A. 943

     Nguyễn Mậu Tài biên soạn năm Chính Hòa 1691. Gia phả họ Nguyễn, trước là họ Lê ở l. Kim Sơn, Gia Lâm, HN. Trong dòng họ có nhiều người đỗ đại khoa như: Nguyễn Mậu Tài (Ts. 1646), Nguyễn Mậu Di (Ts. 1659), Nguyễn Mậu Thịnh (Ts.1691), Nguyễn Duy Viên (Ts. 1694).                                                  : 68

1761. KINH BẮC NHƯ QUỲNH TRƯƠNG THỊ QUÝ THÍCH THẾ PHẢ.      A. 959

     Lê Quý Kiệt biên tập năm Cảnh Hưng 40 (1779). Gia phả họ Trương ở Như Quỳnh, ông tổ Trương Lôi tự Cự Khanh, gốc Thanh Hóa, có công giúp vua Lê, được phong Khai quốc công thần. Sau con cháu dời đến Như Quỳnh, h. Gia Lâm. Trong họ có Trương Bà, tên húy là Trong, từng là Thị nội cung tần, Thương Hòa Tôn Thái Phu Nhân (em trai bà là Quốc cậu, bị kiêu binh phá nhà và là bố vợ Đại tư đồ Hoành Quận công Ngô Phúc Phương).                         : 79

1796. LA KHÊ XÃ TÂY THÔN  KHOÁN ƯỚC.                                          A. 970

     Khoán ước của họ Ngô -La Khê về việc thờ thần, vào đám, ma chay, cưới xin và thể lệ tô thuế ruộng chùa, ruộng hậu...                  : 95

1803. LA TỔ TRUYỆN                 A. 2560

     Truyện La Thị người Tức Mặc, NĐ, đi lính thú sang Thiểm Tây, gửi vợ con ở nhà cho người bạn họ Lý, Khi trở về biết vợ  ngoại tình với bạn,  bèn bỏ đi tu, thành đạo, gọi là La Tổ. Sau người con cũng đi tu gọi là Tiểu La Tổ: 99      

1821. LAM SƠN VĨNH LĂNG DỤ LĂNG BI SAO.                     VHv.   1384/1-2   MF. 1647

     Bản sao hai bài văn bia: 1) Bài khằc ở bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn năm 1435, ghi niên hiệu, nguồn gốc, sự nghiệp của Lê Thái tổ (1385-1433). 2) Bài khắc ở bia Dụ Lăng do Nguyễn Nhân Thiếp và Phạm Thịnh soạn năm 1504, ghi niên hiệu, nguồn gốc, sự nghiệp của Lê Hiến tông (1498-1504).                      : 109

1827. LAN KHÊ NGUYỄN TỘC PHẢ

VHv.  1339/1-2.

     Gia phả họ Nguyễn ở l. Lan Khê, h. Nông Cống.Vốn họ Hà ở l. An Lãng, ph. Thiệu Hóa; đến đời Lê Thánh tông, hai anh em Hà Thọ, Hà Thiệu mộ dân tới Nông Cống khai hoang và lập thành l. Lan Khê. Sau Hà Thiệu (đời thứ 7) làm con nuôi họ Nguyễn ở l. Đức Trạch, đỗ TS đổi thành họ Nguyễn (nay đã trở lại họ Hà).   : 112

1848. LẬP TRAI PHẠM TIÊN SINH THI TẬP

     Phạm Lập Trai (Quý Thích) soạn, Ngô Duy Viên sơ duyệt, Bùi Tồn An biên tập.

A. 400                                                  : 122

1850. LẬP TRAI THI TẬP     VHv. 1462/1-2

     Trong tập này có Nghĩa Khê thi tập (trong VHv. 2244 từ tr.96-121) của Phạm Sĩ Ái, người xã Trung Lập, h. Đường Hào, t. Hải Dương.  :123        

1919. Đinh Nhạ Hành là cháu 6 đời Đinh Văn Tả, người l. Hàm Giang, h. Cẩm Giàng  : 160

1936. LÝ THỊ GIA PHẢ        A. 1075

      Lý Văn Phức biên tập năm Minh Mệnh 2 (1821). Gia phả họ Lý ở phường Hồ Khẩu, HN nguyên gốc ở l. Tây Hương, h. Long Khê, t. Phúc Kiến. Đến đời Lý Khắc Liêm, quan Tổng đốc tỉnh Vân Nam không chịu thần phục triều Mãn Thanh, trốn sang định cư ở phường Hồ Khẩu, truyền 6 đời đến Lý Văn Phức:       168 .           

1943. LỊCH ĐẠI DANH HIỀN PHẢ  A. 2245

     Tiểu sử, quê quán 178 người  đỗ đại khoa từ cuối Trần đến Lê Chiêu Thống.            : 171

1944. LỊCH ĐẠI DANH THẦN SỰ TRẠNG

     42 truyện danh thần và liệt nữ dưới triều Lê và Mạc, trong đó có Ngô Công Hoán (BN) và có nói gốc tích họ Ngô ở Hoàng Xá (tr. 112).

A. 264 MF. 337                                   : 172

1948. Phan Viễn Khanh tức Phan Huy Quýnh (1775-1844) là anh Phan Huy Chú.       : 174

1975. Phan Huy Sảng (1764-1811) là em Phan Huy Ôn (1755-1786).

1992. LIỆT THÁNH BẢO CÁO    A. 2403

     Văn giáng bút của Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, khuyên làm điều tốt, bỏ điều xấu: 197

1995... NGÃ QUỐC NHÂN NHẬP SĨ TQ

     Những người VN làm quan ở TQ: Lý Thân, Vương Trung, Đặng Nhượng, Lý Tiến, Lý Cầm, Nguyễn Gia, Khương Công Phụ, Triệu Thái, Nguyễn An, Dương Công Liên, Trương Ngạn Sán, Lê Dung, Trần Nho, Lê Nguyên Hồng, Lê Vinh Đình...

2048. LUẬN BIỆN TÁN TỤNG CA CHÂM VĂN TẬP.                           A. 1264

     Cao Huy Diệu, Hà Tông Huân, Lê Anh Tuấn biên tập gồm 28 bài luận, biện, tán... đề tài lấy trong sử sách TQ về các vấn đề đạo đức, chính trị, xã hội...                                            : 227

2056. LUẬN NGỮ THÍCH NGHĨA CA

A.186/ 1-2 VÀ VHv 709/3-6

     Tự Đức biên soạn, Hoàng Hữu Xứng, Ngô Huệ Liên duyệt, Hoàng Bỉnh, Nguyễn Hiệu kiểm hiệu. Diễn Nôm theo thể 6-8, 20 thiên sách Luận ngữ                                          : 230                                                  

2093. LƯƠNG GIA THẾ PHẢ VHb. 57, MF1764.

Gia phả họ Lương ở l. Bùi Xá (Tam Đồng) Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông tổ Lương Quý Hương, tự Phương Khê thụy Hoa Ngạc, hiệu La Tào. Do cháu 12 đời là Nhật Tỉnh biên tập năm Minh Mệnh 6 (1825).                                      : 248

2099. LƯƠNG XÁ ĐẶNG THỊ PHẢ

VHv. 1341/1-5

     Gia phả họ Đặng ở x. Mạc Xá (Lương Xá), h. Chương Đức, do Ngô Thì Nhậm viết tựa. Họ này là dòng dõi của Trần Hưng Đạo, đến đời Trần Văn Huy, đỗ TS triều Lê, lấy tên hiệu là Đặng Hiên. Từ đấy về sau con cháu đều đổi sang họ Đặng như Đặng Dư, Đặng Toản, Đặng Khuê. Trong họ có nhiều người hiển đạt như: Đặng Huấn, Đặng Tiến Vinh, Đặng Thế Tài, Đặng Tiến Thự... sau có Đặng Trần Thường theo Gia Long chống Tây Sơn làm tới chức Binh bộ thuợng thư...                                 : 252

2128.  MAI DỊCH TRÂU DƯ VĂN TẬP

VHv. 1417 và A. 1280

     Ngô Thì Vị biên soạn: 93 bài thơ, 1 bài ca, 12 bài phú vịnh phong cảnh, cổ tích trên đường đi sứ TQ vào khoảng 1820-1821.       : 267

2139. MÃO CẦU TRẦN TỘC PHẢ      A. 680

     Gia phả họ Trần từ đời thứ 5 đến đời thứ 15 ở x. Trần Xá, h. Nam Xang, Hà Nam. Họ này vốn ở x. Tức Mặc, h. Mỹ Lộc, Nam Định, sau

 chạy loạn đến Trần Xá                  : 272

2183. MỘ TRẠCH LÊ THỊ PHẢ A.658

     Gia phả họ Lê ở l. Mộ Trạch, h. Bình Giang, t. Hải Dương: thủy tổ là Lê Nhữ Huy, quê ở Lão Lạt, h. Thuần Lộc, Châu Ái, sau chuyển ra quê vợ l. Mộ Trạch. Con trai Nhữ Huy là Lê Cảnh Tuân sinh ra Lê Thúc Hiên và Lê Quý Đỉnh đều có công giúp Lê Thái tổ dẹp giặc Minh, từ đó hiển đạt đến 35 đời.                                 : 294

2191. A. 1102 có tiểu sử công thần triều Nguyễn:  Ngô Đức Tuấn...                      : 298

2243. NAM HÀNH THI KÍ       A. 1946.

     Giải nguyên Ngô Tùng Hiên soạn: gồm 35  bài thơ vịnh cảnh... trên đường  từ Hà Nội vào Huế năm 1820.                                         : 327

2252. NAM PHONG GIẢI TRÀO AB. 348, AB. 232.

     Ca dao tục ngữ VN dịch từ Nôm ra Hán.

Trần Liễu Am và Ngô Hạo biên tập, Trần Doãn Giác đề bạt.                                             : 331    

2305. NAM XANG LIỆT NỮ TRUYỆN.

AB. 125

     Truyện Võ Thị Thiết vf chồng là Trương Sinh ở h. Nam Xang. Trương Sinh đi lính. Ở nhà, tối đến trước ánh đèn, Thieets thường chỉ bóng mình  dỗ con: “Cha mày đấy”. Do vậy, khi Sinh về, con không nhận cha, nói: “Cha tôi đến tối mới về”. Bị chồng ngờ là ngoại tình, Thiết nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử.

     Mai Đình Nguyễn Hòa Hương soạn.   : 359

2330. NGHĨA KHÊ THI TẬP VHv. 2345

     Có tập thơ của Phạm Sĩ Ái gồm:thơ tiễn, tặng viếng bạn, đề vịnh...

2337. NGOẠI LÃNG DOÃN TƯỚNG CÔNG PHẢ KÝ          VHv. 1747

     Hành trạng và sự nghiệp của Doãn Uẩn, người l. Ngoại Lãng, h. Thư Trì, t. Thái Bình. Ông nhà nghèo, 34 tuổi đỗ CN, làm án sát tỉnh Định Tường, có công dẹp loạn Lê Văn Khôi, được phong An Tây mưu lược tướng.       : 374

2343. NGỌC ĐỒNG HƯƠNG ƯỚC A. 324

     Hương ước của l. Ngọc Đồng, h. Kim Động, t. Hưng Yên, do Trần Đình Nguyên, Nguyễn Tín Thi, Ngô Văn Đạo biên tập năm 1913 : 380

2345. NGỌC HOA CỔ TÍCH TRUYỆN AB 60

     Truyện thơ Nôm kể lại mối tình chung thủy giữa Phạm Tải và Ngọc Hoa: Ngọc Hoa là con gái một nhà giàu họ Trần. Nàng thông minh lại có nhan sắc, mới 13 tuổi đã có nhiều nơi quyền qúi đến cầu hôn, nhưng nàng đều không ưng. Một hôm Phạm Tải, một học trò nghèo đến nhà nàng xin ăn. Thấy chàng có tài, có đức, nàng đem lòng yêu dấu và sau đó lấy làm chồng. Biện Điền vì không cưới được Ngọc Hoa, đã tạc tượng nàng dâng cho Trang Vương. Ngọc Hoa bị bắt vào triều. Trang Vương tìm mọi cách mà vẫn không chinh phục nổi trái tim của nàng, bèn chuyển sang giết Phạm Tải. Ngọc Hoa tức giận tự rạch mặt mình cho xấu đi, nhưng Trang Vương vẫn một mực đeo đẳng. Nàng thấy vậy, đành vờ chấp thuận, hẹn ba năm sau mãn tang chồng sẽ lấy hắn. Đến ngày mãn tang, nàng tự vẫn để giữ lòng chung thủy với chồng. Dưới âm phủ, Phạm Tải cùng Ngọc Hoa làm đơn kiện lên Diêm Vương, tố cáo tội ác của Trang Vương. Kết quả Trang Vương bị ném vạc dầu, Phạm Tải và Ngọc Hoa đều được trở về dương thế và chàng đã trị vì đất nước thay Trang Vương.   

                                                    : 382

2347. NGỌC KIỀU LÊ TÂN TRUYỆN

VN.b 76

     Truyện thơ Nôm 6-8, kể lại mối tình chung thủy giữa Tô Hữu Bạch và Hồng Ngọc. Hồng Ngọc là cô gái vừa có nhan sắc, vừa giỏi văn thơ. Quan Ngự sử Dương Đình Chiếu dạm hỏi nàng cho con trai mình, nhưng bị khước từ, đã tiến cử Bạch Thái Huyền là cha của Hồng Ngọc đi sứ đất giặc. Bạch công phải gửi Hồng Ngọc cho bạn là Ngô Khuê. Vẫn bị Dương Đình chiếu tìm cách ép duyên. Ngô Khuê phải đưa gia quyến cùng Hồng Ngọc về quê trốn tránh. Thời gian ở gửi nhà họ Ngô, Hồng Ngọc đổi tên là Vô Kiều, phỏng theo tên người con gái xấu xí họ Ngô là Vô Diễm. Một lần đi thăm chùa, gặp nho sinh Tô Hữu Bạch, vừa đẹp trai vừa giỏi thơ văn, Ngô Khuê muốn gả Hồng Ngọc cho Tô. Nhưng khi đến xem mặt, chàng Tô lại gặp con gái Ngô Khuê xấu xí. Chàng từ chối.

     Trên đường đi Tràng An, Tô gặp Yên Tố, người hầu gái của Hồng Ngọc. Nhờ Yên Tố giúp đỡ, Tô và Hồng Ngọc đã cùng nhau hẹn ước kết duyên. Một buổi ngao du, Tô gặp Lư Mộng Lê đang cải trang nam giới, hai người rất ý hợp tâm đầu. Mộng Lê hứa gả “em gái” cho Tô. Sau đó Tô thi đỗ TS, bị Dương Tuần Phủ ép gả  em gái cho, chàng phải đổi tên là Liễu Tú tài để trốn, gặp Bạch công lúc này đổi tên là Hoàng Phủ đang đi tìm mình. Thấy Liễu tài hoa, lại thấy việc tìm Tô là mong manh, Bạch công nảy ý gả Hồng Ngọc và cháu là Lư Mộng Lê cho Liễu. Liễu từ chối. Giữa lúc Hồng Ngọc và Mộng Lê đang đau khổ vì ý định của Bạch công thì Ngô Khuê đến. Một cuộc tranh cãi quyết liệt giữa Bạch công và Ngô Khuê: Một bên ca ngợi chàng Tô, một bên ca ngợi chàng Liễu. Đúng lúc ấy quan Hàn lâm Tô Hữu Bạch xuất hiện trong vai Tú tài Liễu. Thế là mọi việc đã sáng tỏ. Mọi người vui vẻ làm lễ cưới cho Tô Hữu Bạch với cả ba cô gái: Hồng Ngọc (tức Vô Kiều), Mộng Lê và Yên Tố. : 382

2351. NGỌC THAN XÃ NGUYỄN THỊ TỐN CHÚC TỪ               VHv. 2644

     Di chúc của Nguyễn Thị Tốn ở x. Ngọc Than để lại cho 2 con trai là Đỗ Lai Thi và Đỗ Lai Tuyên, do Đỗ Lai Triết soạn năm 1862: 385

2357. NGÔ CÔNG HUẤN TỬ VĂN. A. 2219

     Bài thơ dài, mỗi câu 5 chữ của Ngô Duy Viên, khuyên con gái chăm học, sửa mình, giữ nết thảo hiền, không ham danh lợi...         : 387

2368. NGÔ TỘC  TRUY VIỄN ĐÀN PHẢ A.647

     Trần Danh Án, Phạm Giáp Thiên (Giao Khê bá), Vũ Huy Tấn (Dinh Trạch hầu) viết tựa và tán; Vũ Trinh (Lan Trì bá) viết bài thuyết; Nguyễn Cần Mưu (Vị Khê bá) viết đề dẫn; Lê Lương Thận hiệu Hi Triết viết bạt vào các năm 1791, 1792.                                        : 397

2369. NGÔ VĂN LỘC NGHIÊM ĐƯỜNG THI TẬP.         VHv. 2463

     Thơ văn của thân sinh Ngô Văn Lộc.     : 398

2405. NGUYỄN ĐÌNH TỘC GIA PHẢ THẾ HỆ TẬP  VHv. 2428

     Cháu 16 đời là Nguyễn Đình Hội biên soạn năm 1929, Trần Văn Phùng sao lại năm 1962.

Gia phả họ Nguyễn Đình: thủy tổ Nguyễn Nhữ Soạn  (con Nguyễn Phi Khanh, em Nguyễn Trãi), quê l. Nhị Khê, h. Thượng Phúc, sau nhập tịch quê ngoại ở x. Cừ Nội, Thanh Hóa, mộ dân khai hoang lập ra ấp Mê Thôn. Nguyễn Nhữ Soạn cùng Nguyễn Trãi theo giúp Lê Lợi, được phong Tuy Quận công.

2424. NGUYỄN THỊ GIA PHẢ (ĐÔNG ĐỒ)

A. 798

     Gia phả họ Nguyễn, thủy tổ là Hải Phong ở x. Đông Đồ, h. Đông Anh. Họ này là tông thất nhà Mạc, sống ở Hải Dương, sau đổi thành họ Nguyễn, di cư đến x. Tào Mai, h. Kim Hoa. Đến đời Phúc Hiền, dời đến x. An Hòa, h. Yên Lãng, cuối cùng dời đến Đông Đồ.

     Phả do Nguyễn Huy soạn, Ngô Đức Phủ viết tựa năm 1873.                              : 428

2428. NGUYỄN THỊ TÂY SƠN KÍ   A. 3138

     Có bài kí về lịch sử thành Đồ Bàn (tr. 92-99)

                                                      : 430.

2430. NGUYỄN THỊ THẾ PHẢ THỰC LỤC

A. 2258

     Gia phả họ Nguyễn từ năm Cảnh Trị 4 (1666) đến năm Thành Thái 9 (1897). Họ này trước là họ Đào, ở x. Phù Đỗng, h. Tiên Du, sau di cư đến Đông Ngạc, Từ Liêm và đổi thành họ Nguyễn là họ ngoại.                                 : 431

2448. NGUYỄN TỘC THẾ PHẢ (HƯƠNG KHÊ)          VHv.  1753

     Hành trạng Nguyễn Hễ, hiệu Thanh Khê, người x. Hương Khê (trước là Lan Khê), h. Tĩnh Gia, Thanh hóa. Nguyễn Hễ vốn họ Hà (Hà Hiệu), nguyên quán x. Vĩnh Khê, Nông Cống, làm con nuôi họ Nguyễn, đỗ TS giúp Lê Chiêu Thống và Gia Long chống Tây Sơn.          : 441   

2469. NGƯ PHONG TƯỚNG CÔNG TRUYỆN KÍ.                                VHv. 2072

     Tiểu sử, sự nghiệp Nguyễn Quang Bích, người th. Nhất, x. Trình Phố, tg. An Bồi, h. Trực Định, ph. Kiến Xương, đỗ TS năm 1869. Bài tưạ do tác giả viết năm Hàm Nghi thứ nhất (1885), Ngô Đức Dung, hiệu Tùng Lĩnh chép tặng Long Điền tiên sinh năm 1946.                         : 452   

2476. NGỰ CHẾ NGỌC PHẢ KÍ.      VNv. 241

     Gia phả nhà Lê, thủy tổ là Lê Hối, quán l. Như Áng, h. Lương Sơn, t. Thanh Hóa. Lê Lợi là đời thứ 4, khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh, lên làm vua xưng là Thái Cao Hoàng Đế, truyền đến Lê Xuân (Cung Đế), bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi. Sau Lê Ninh (Trang tông) diệt nhà Mạc, khôi phục cơ nghiệp nhà Lê, truyền đến Chiêu Thống là đời chót. Gia phả các chi.

     Nguyễn Hài và một số đình thần triều Lê biên tập năm Cảnh Hưng 41 (1780), Đặng Xuân Khanh chép lại năm 1962.                        : 456               

2510. NHÂN ÁI THẦN TỪ LỤC    A. 710

     Sự tích thần Đỗ Kính Tu, thờ ở đền th. Nhân Ái, x. Vân Canh, h. Từ Liêm, thần là người bản thôn, làm quan triều Lí, bị vu oan là phản nghịch nên tự tử.                                     : 473

2523. NHÂN THẾ TU TRI

     Có 6 bản in, do Cao Xuân Dục biên tập, Ngô Huệ Liên và Trần Sĩ Trác kiểm hiệu. Lê Đình Luyện, Nguyễn Thiện Hành hiệu chỉnh. Quốc sử quán in 1902.                                       : 478

1548. NHỊ ĐỘ MAI DIỄN CA. VNb. 28.

     Diễn Nôm thể 6-8 truyện Nhị Độ Mai: Mai công cha Mai Lương Ngọc bị gian thần Lư Kỉ

vu oan giết hại. Lương Ngọc phải chạy trốn. Trần Hạnh Nguyên, vợ chưa cưới của Lương Ngọc cũng bị gian thần lập kế đưa đi cống Hồ. Hạnh Nguyên nhảy xuống sông tự tử, được Chiêu Quân hiển linh cứu sống. Lương Ngọc thay tên đổi họ đi thi, đỗ TN rửa được oan cho cha và cùng Hạnh Nguyên sum họp.         : 493

2552 NHỊ KHÊ NGUYỄN THỊ GIA PHẢ A.944

     Gia phả họ Nguyễn ở Nhị Khê. Ông tổ thứ nhất là Phi Phượng, hiệu Phúc Chính, nguyên quán sở x. Chi Ngại, h. Phượng Sơn (Phượng Nhỡn). Cháu 5 đời là Nguyễn Phi Khanh: 496                                                      

2598.  ÔN DỊCH                               VHv. 2087 

     Ngô Hữu Tính và Trệ Giang Di Trai, Trinh Mông Dưỡng Phủ biên tập.             : 519

2604. PHẠM CÔNG TÂN TRUYỆN  AB. 14

     Phạm Công nhà nghèo, mồ côi cha từ nhỏ, dắt mẹ đi ăn xin. Cúc Hoa con gái quan phủ đem lòng yêu, hai người lấy nhau. Phạm Công sau thi đỗ Trạng nguyên, vua định gả công chúa cho, nhưng chàng từ chối vì đã có vợ. Vua giận bắt giam. Khi được thả về, Phạm Công cùng vợ sum họp được ít lâu thì Cúc Hoa mất để lại 2  con  nhỏ. Phạm Công rất thương xót. Giặc gĩa nổi lên, vua sai Phạm Công đi đánh dẹp, chàng mang hài cốt vợ và dắt 2 con cùng ra trận. Tướng giặc động lòng lui quân. Sau Phạm Công lấy Tào Thị làm vợ kế. Tào Thị là người lẳng lơ độc ác, rất tệ bạc với con chồng, khiến chàng càng thương nhớ Cúc Hoa và đã xin từ chức, xuống âm phủ tìm người vợ trước. Trải qua bao gian nan thử thách, cuối cùng vợ chồng con cái được sum vầy.                                      : 523    

2619. PHẠM TỘC GIA PHẢ (KÍNH CHỦ)

A. 2420

     Gia phả họ Phạm ở l. Kính Chủ (năm Minh Mạng 10 đổi thành x. Dương Nham), h. Hiệp Sơn, ph. Kinh Môn, Hải Dương. Họ này vốn họ Chúc ở t. Quảng Đông, TQ, đến đời Chúc Đức Công di cư sang VN, đến đời Trần Nhân tông đổi thành họ Phạm. Những người hiển đạt: Phạm Sư Mạnh, Phạm Gia Mô, Phạm Tiến.: 531

 

2642. TRUYỆN PHAN TRẦN    AB. 37

     Soạn theo thể 6-8: Vào thời Tỉnh Khang nhà Tống (1126), có 2 người bạn thân, một họ Phan, một họ Trần. Vợ 2 người đều đang có mang. Họ Phan và họ Trần hẹn trước với nhau, nếu một bên sinh con trai, một bên sinh con gái, thì sẽ gả con cho nhau.

     Sau họ Phan sinh con trai là Tất Chánh, họ Trần sinh con gái là Kiều Liên.

     Được cha mẹ dạy dỗ chu đáo, Tất Chánh học hành chăm chỉ, thi Hương đỗ Thủ khoa, nhưng vào thi Hội bị hỏng. Xấu hổ, chàng không trở về nhà nữa, ở lại kinh đô tìm nơi trọ học, quyết chờ khoa sau. Cùng thời gian này, cha Kiều Liên mất, quê nhà lại có giặc, hai mẹ con Kiều Liên chạy nạn, thất lạc nhau. Kiều Liên đến tu ở chùa Kim Lăng, nơi bà cô của Tất Chánh trụ trì. Một hôm Tất Chánh đến thăm cô, gặp Kiều Liên, chàng phải lòng và mắc bệnh tương tư. Nể lời sư cô, Kiều Liên tới thăm Tất Chánh. Qua câu chuyện họ nhận ra rằng, chính họ có duyên đính ước từ xưa. Từ đấy họ nhiều lần bí mật đến với nhau.

     Trở lại kinh thi Hội, Tất Chánh đỗ TH. Chàng xin sư cô cho cưới Kiều Liên, hai vợ chồng cùng nhau về quê Tất Chánh. Tới nhà, Kiều Liên bất ngờ gặp lại mẹ. Thế là hai họ Phan Trần sum họp hạnh phúc.               : 544

2691. PHÙ DUNG TÂN TRUYỆN   AB. 68

     Truyện thơ Nôm về bức tranh Phù Dung, thể 6-8: Thời vua Nguyên Thuận Đế, có Thôi Tuấn Thần, con nhà gia thế, học giỏi, mà viết chữ và vẽ tranh cũng rất đẹp. Vợ là Vương Thị có nhan sắc và có tài văn thơ. Hai vợ chồng Tuấn Thần rất thích bức tranh Phù Dung do chính tay Tuấn Thần vẽ. Do được ẩm bổ, Tuấn Thần cùng vợ thuê thuyền đi nhận chức Huyện úy ở châu Vĩnh Gia. Dọc đường bị chủ thuyền là A Tú, thấy vợ chồng Tuấn Thần giàu có, đã tìm cách hãm hại. Tuấn Thần phải nhảy xuống sông, còn vợ bị ép nài lấy con trai hắn. Sau Vương Thị tìm cách trốn được lên bờ, vào tu ở một ngôi chùa, lấy pháp danh là Tuệ Viên. Một hôm có khách đến lễ và tặng chùa bức tranh Phù Dung. Tuệ Viên nhận ra đó là thủ bút của Tuấn Thần khi trước. Rồi nhân xúc động, nàng đề luôn vào bức tranh một bài thơ tứ tuyệt nói lên hi vọng được giải oan cho chồng. Sau đó Cao Nạp Lễ là viên quan Ngự sử nghỉ hưu đến chơi chùa, thấy tranh đẹp thơ hay đã mua về nhà treo chơi. Về phía Tuấn Thần, sau khi thoát khỏi tay A Tú, chàng đã phải đi viết thuê, vẽ mướn để kiếm sống và cuối cùng vào làm gia sư cho Cao Nạp Lễ. Nhìn thấy bức tranh cũ của mình, lại nhận ra bài thơ và thủ bút của vợ mình trên bức tranh, Tuấn Thần kêu xin quan Ngự sử tra xét cho vụ án. Nhờ đó nỗi oan của Tuấn Thần được giải, bọn A Tú bị xử tử. Vợ chồng Tuấn Thần đoàn tụ với nhau.                                                      : 567

2763. PHƯƠNG HOA TÂN TRUYỆN. AN. 86

     Truyện Nôm Phương Hoa thể 6-8: Phương Hoa là con gái quan Ngự sử Trần Diện, Cảnh Yên là con trai quan Thượng thư họ Trương. Gia thần Tào Trung Úy thấy Phương Hoa là người tài sắc bèn đến hỏi làm vợ. Bị từ chối, nên mạo chiếu chỉ nhà vua khép Trương công vào tội vong thần mại quốc, giết ông rồi cướp hết tài sản. Hai anh em Cảnh Tỉnh và Cảnh Yên đưa mẹ chạy về Thạch Thành lánh nạn. Một tháng sau, vợ Cảnh Tỉnh sinh Tiểu Thanh rồi lâm bệnh chết. Bảy năm sau tới kì đại khoa, mẹ con bà cháu họ Trương  trở về quê dò tin tức. Họ nghỉ ở Lôi Dương. Lúc này Phương Hoa vẫn một lòng chờ Cảnh Yên, tình cờ nàng gặp Tiểu Thanh rồi đưa về nhà làm con nuôi, nhờ đấy nàng biết được tình cảnh nhà họ Trương. Nàng đã tìm mọi cách giúp đỡ họ. Một hôm nàng hẹn Cảnh Yên vào lúc canh ba tới nhận quần áo tiền bạc ở góc vườn hoa. Không may bị tên gian Hồ Nghi biết chuyện, hắn đã lén tới chỗ hẹn, giết chết người hầu của Phương Hoa, cướp của. Cảnh Yên tới, vô tình dẫm phải người chết, máu vương khắp người. Chàng bị Trần Ngự sử bắt tống ngục. Quá đau xót, Trương phu nhân qua đời. Phương Hoa thay Cảnh Yên lo việc chôn cất chu đáo, xong xuôi nàng xin cha mẹ cho lên kinh bán hàng, kén chồng. Nhưng sau khi lên kinh, nàng đã ngày đêm ôn luyện văn chương và lấy tên là Cảnh Yên để đi thi. Kết quả nàng đỗ TS. Giữa triều đình, nàng bỏ hết mũ áo cân đai, tâu với vua nỗi oan của gia đình họ Trương và của Cảnh Yên. Tào Trung Úy bị tru di tam tộc. Hồ Nghi bị chém đầu. Cảnh Yên được xét đỗ TS đặc cách cùng Phương Hoa. Hai người chính thức lấy nhau và dẫn nhau về quê.   : 605

2776. QUAN ÂM CHÍNH VĂN TÂN TRUYỆN                  AB. 638

     Truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính, thể 6-8: Thị Kính con gái Mãng Ông, người nước Cao Ly, nhà nghèo, lấy chồng học trò là Sùng Thiện Sĩ. Một hôm học khuya, Thiện Sĩ ngủ thiếp đi bên bàn học. Ngồi may vá cạnh chồng, thấy chồng có chiếc râu mọc ngược, Thị Kính cho là điềm không hay. Sẵn dao trong tay, Thị Kính toan cắt bỏ chiếc râu đó đi. Bỗng Thiện Sĩ giật mình tỉnh dậy, cho là vợ định hại mình, bèn hô hoán lên, thế là Thị Kính bị gia đình nhà chồng đuổi ra khỏi nhà. Bị oan ức, Thị Kính cải trang thành con trai, đi tu ở chùa Văn Tự, pháp danh Kính Tâm. Trong vùng có Thị Màu, con gái một nhà giàu, tính lẳng lơ, lên chùa thấy chú tiểu Kính Tâm, Màu đem lòng say đắm. Trước sự thờ ơ của chú tiểu, Màu không nén được lòng ham muốn, bèn về nhà ăn nằm với người ở trai trong nhà và có mang. Bị hào lý trong làng tra hỏi, Màu đổ tội cho Kính Tâm, vì thế Kính Tâm bị sư cụ đuổi ra ra ở ngoài Tam quan. Ít lâu sau, Màu sinh con trai và đem vứt ra ngoài Tam quan cho Kính Tâm. Thương trẻ sơ sinh, Kính Tâm đã ngày này qua ngày khác đi xin sữa, xin cơn nuôi nấng đứa trẻ. Ba năm ròng như thế, phần vì vất vả, phần vì ưu phiền, oan ức, Kính Tâm đã kiệt sức và chết. Khi khâm liệm Kính Tâm, mọi người mới biết Kính Tâm là phụ nữ. Nỗi oan của nàng từ ấy được giải tỏ. Nàng siêu thăng thành Phật Quan Âm.      : 614

2928. SÁCH MẠNH HỌC BẬC CAO TRUNG HỌC GIÁO KHOA                        AB. 290

     Ngô Giáp Đậu, Đốc học Nam Định diễn Nôm năm 1913.                                       : 691

2973. SƠ KÍNH TÂN TRANG       A. 1390

     Truyện thơ Nôm gồm 1482 câu kể lại mối tình của Phạm Kim và Trương Quỳnh Thư: một người họ Phạm ở Từ Sơn, Kinh Bắc và một người họ Trương ở Kiến Xương, Sơn Nam quen thân nhau, hẹn gả con cho nhau, nếu một bên sinh trai, một bên sinh gái; lại trao gương vàng lược ngọc cho nhau để làm tin. Sau Phạm công sinh con trai, đặt tên là Phạm Kim. Gặp quốc biến, Phạm công tổ chức cần vương, nhưng thất bại. Phạm Kim định tiếp tục sự nghiệp của cha, cũng không thành, đành rong chơi đây đó cho khuây khỏa nỗi lòng. Ở Thú Hoa Dương, chàng gặp Quỳnh Thư, hai người yêu nhau say đắm. Nhưng rồi Quỳnh Thư bị ép gả cho một viên quan Đô đốc ở Kinh kì. Phạm Kim được tin này, đến ngay với người yêu, nhưng cả 2 đều thấy bế tắc. Trương Quỳnh Thư tự tử, còn Phạm Kim bỏ đi tu.

     Sau khi chết, Quỳnh Thư lại đầu thai  vào nhà họ Trương trở thành Thụy Châu. Nàng cải dạng làm trai, giao du rất rộng. Cuối cùng gặp Phạm Kim, họ nhận ra nhau  là có duyên gương lược từ xưa và được Trương công cho phép lấy nhau.                                                   : 712

2983. ĐẶNG MÔN THẾ PHẢ              A. 1063

     Gia phả họ Đặng ở l. An Trung, trấn Sơn Nam: thủy tổ là Nguyễn Gia Doanh, đến đời Nguyễn Đăng mới đổi theo họ ngoại là họ Đặng. Họ này có nhiều người đỗ đạt như Đình Tướng đỗ TS, Đình Trân đỗ CN.

     Do Lê Như Mai ghi năm Duy Tân (1915) : 716.

 

                             HẾT TẬP HAI

3061. TÁI SINH DUYÊN TRUYỆN   VNb .73

     Truyện thơ Nôm, kể lại mối tình giữa Hoàng Phủ Thiếu Hoa với Mạnh Lệ Quân: Thiếu Hoa đã đính hôn với Mạnh Lệ Quân. Lưu Khuê Bích là con trai một nịnh thần không lấy được Mạnh Lệ Quân đã tìm cách làm cho cha con Thiếu Hoa bị tù tội để ép duyên. Mạnh Lệ Quân phải bỏ trốn, giả trai,  lấy tên là Lịch Quân Ngọc, rồi thi đỗ Tam nguyên, được làm Tể tướng. Trong nước có giặc quấy nhiễu, quan Trạng tân khoa Hoàng Phủ Thiếu Hoa được cử đi chiêu an và đánh Cao Li. Chiến thắng trở về, Thiếu Hoa được phong Vương, vua ép chàng lấy Lưu Yến Ngọc. Chàng từ chối và có ý chờ Mạnh Lệ Quân. Thấy chàng thực bụng yêu mình, Mạnh Lệ Quân xin vua tha tội giả trai, và được phong là Quận chúa. Hai người sum họp cùng nhau.

     Chu Ngọc Chi dịch theo nguyên bản chữ Hán, in năm 1928.                                   :  7/III

3108. TẢN VIÊN SƠN NGỌC PHẢ A. 1547

     Đời Hùng Vương thứ 18 ở động Lăng Sương, xứ Sơn Tây có một người tên là Nguyễn Tuấn (sau đổi tên là Nguyễn Huệ, Nguyễn Chiêu). Sau khi cha mất, Tuấn cùng mẹ lên núi Tản Viên ở, gặp được Sơn thần cho cây gậy thần và được Thái tử ở long cung cho cuốn sách ước, nhờ vậy mà Tuấn cứu giúp được nhiều người, được dân chúng tôn là Sơn Tinh. Sơn Tinh về sau lấy Mị Nương, bị Thủy Tinh thù oán, dâng nước lên gây ra lụt lội, Sơn Tinh từng giúp Trưng Vương đánh bại Tô Định.      :32/III

3203. TÂN TẬP HOAN CHÂU THẠCH HÀ TRẢO NHA NGÔ THỊ TRUỀN GIA TẬP LỤC.             A. 3077

     Do Ngô Phúc Lâm biên tập năm Cảnh Hưng 7 (1746), Ngô Phúc Trường tục biên năm Minh Mệnh 18 (1837).                                      : 75/III

3204. TÂN TẬP NGHỆ AN THIÊN LỘC PHÙ LƯU TRƯỜNG NGUYỄN THỊ ĐẠI TÔNG TỔNG KÍ.                                A. 3161

      Gia phả họ Nguyễn ở Phù Lưu Trường, h. Thiên Lộc, từ Nguyễn Văn Giai đỗ Tam nguyên đời Lê Quang Hưng trở xuống. Nguyễn Đông Dương biên tập năm Đồng Khánh (1888)   : 76

3299. THÁI LẠC TRƯỜNG VĂN SÁCH

VHv. 461

     Những bài văn sách do Ngô Tiên Sinh ở Trường Thái Lạc soạn năm Tự Đức 12 (1859): 120.

3318. THANH BÌNH CA ĐIỆU  VHv. 2080

     Bài ca chữ Hán ca ngợi cuộc đời của Phạm Văn Nghị: ông quê l. Tam Đăng, ph. Nghĩa Hưng, đỗ HG dưới triều Nguyễn (1838). Khi Pháp sang xâm lược, Phạm Văn Nghị mộ quân chống lại, vì lực lượng mỏng, không ngăn được giặc, hai ba lần tự tử đều được cứu sống. Sau ông về sống ẩn dật tại hang núi Trường Yên, tự đặt hiệu là Liên Hoa Động Chủ.

     Do Ngô Mạnh Cầu soạn năm Tự Đức 27 (1874), Phạm Văn Nghị duyệt. : 128

3321. THANH CHƯƠNG HUYỆN CHÍ

VHv. 2557

     Đặng Công Luận chép vào năm 1963 theo bản chính. Ngô Ngọc Thiên hiệu đính.   : 130.

3369. THÁNH TÍCH THỰC LỤC  A. 1067

     Sự tích 4 vị thần: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện: nhà sư Khâu Đà La, người nước Thiên Trúc, một lần đi vân du, tới Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), Kinh thành của Sĩ Vương, nơi có nhiều người tu hành và sùng kính đạo Phật.

     Nhà sư được mời về ở nhà một người tu hành, trong nhà có cô gái  hằng ngày rất chăm chỉ và thành kính dâng hương hoa cúng Phật. Nhà sư bèn đặt tên cho cô là Man Nương. Khi từ biệt gia đình Man Nương để vào núi, nhà sư nói rằng: 3 năm sau vùng này sẽ có hạn lớn. Rồi nhà sư lấy chiếc gậy của mình cắm xuống một nơi trong vườn, bảo gia đình Man Nương đào một cái giếng ở chỗ đó để phòng hạn lớn. Được ít lâu, bỗng nhiên Man Nương có mang, qua 14 tháng sinh một bé gái. Gia đình Man Nương mang bé vào núi giao cho Khâu Đà La. Nhà sư đặt tên cho bé là Đà La Tử, rồi hỏi các cây cổ thụ, muốn nhờ cây nuôi giữ hộ. Có một cây tự tách thân ra làm đôi, đón nhận bé gái vào lòng, rồi khép kín lại. Đúng như lời sư nói, 3 năm sau dân thành Luy Lâu gặp hạn lớn, các nguồn nước đều khô cạn, phải đến xin nước giếng nhà Man Nương. Vua biết chuyện, bảo Man Nương kể hết đầu đuôi, rồi sai nàng vào núi tìm nhà sư giúp dân trong thành cứu hạn. Nghe Man Nương truyền đạt lệnh vua, nhà sư ngồi lặng gây lát, bỗng mây đen kéo tới mù mịt, mưa lớn trút xuống. Gió to nhổ bật gốc cây cổ thụ trong đó có đứa bé. Cây cổ thụ theo nguồn lũ lớn trôi về bên thành Luy Lâu. Thấy có tiếng nhạc và vừng sáng tỏa ra từ thân cây, Sĩ Vương sai cưa thân cây ra làm 4 đoạn, tạc thành 4 pho tượng để thờ. Các pho tượng này rất thiêng. Mỗi khi vua sai làm lễ cầu mưa thì lập tức mây đen kéo đến, mưa đổ xuống, lại có sấm và chớp. Vì vậy Sĩ Vương đặt tên cho 4 pho tượng là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện.

     Chép năm Thành Thái Đ. Dậu (1897) : 153

3382. THẨM GIA THẾ PHẢ  A. 758

     Gia phả họ Thẩm ở l. Thổ Linh, h. Gia Lâm: họ này vốn ở TQ, sang VN vào cuối thời Minh.

     Do Thẩm Đức Hoằng đề tưạ và bổ sung năm Minh Mệnh 13 (1832), sao lại năm 1840   : 162

3510. THIÊN HẠ BẢN ĐỒ TỔNG MỤC LỤC ĐẠI TOÀN.              A. 1362

     Tổng mục lục bản đồ VN thời Lê gồm 13 thừa tuyên, 53 phủ, 161 huyện, 9020 xã, 49 châu, 3 làng, 125 phường, 223 thôn, 529 trang, 390 động, 484 sách, 54 sở, 55 trại, 20 vạn, 16 nguyên và 3 tuần.                                     : 223

3537. TIÊN THIÊN KHẢO TRUYỆN  A. 3094

     Khảo về công chúa Liễu Hạnh: bà là con gái Lê Đức Chính và Trần Thị Phúc ở th. An Thái, x. Vân Cát, h. Vụ Bản, t. Nam Định, là một trong số 4 người bất tử (Liễu Hạnh, Tiên Dung, Chử Đồng Tử và Phù Đổng Thiên Vương) : 238

3575. THỊNH QUANG ĐỖ TỘC THẾ THỨ PHẢ KÍ.               A. 799

     Gia phả họ Đỗ ở l. Thịnh Quang, tg Hạ, h. Vĩnh Thuận, ph. Hoài Đức. Họ này vốn là họ Dương ở x. Lạc Đạo, trấn Kinh Bắc.

     Do Đỗ Hi biên tập, Đỗ Đức Liêm, Đỗ Đức Trụ hiệu đính năm Cảnh Hưng 3 (1742). Dương Lập soạn bài tựa năm 1889.                      : 255

3578. THỌ MAI GIA LỄ                VHb. 117...

     Do Hồ Gia Tân hiệu Thọ  Mai soạn. Có tất cả 21 bản in từ năm Tự Đức 4 (1851) cho đến Bảo Đại 14 (1939).                                 : 257

3634. THỦY SƠN HÀNH TẠP SAO   A. 1992

     122 bài thơ, 8 bài văn sáng tác trong dịp đi công cán ở Ninh Bình.

     Ngô Đôn soạn, Nguyễn An Chi phẩm bình. Chép năm Tự Đức 34 (1881).                  : 282

3644. THỤY PHƯƠNG THẦN TỪ  VHv. 2619

     Sự tích Lí Ông Trọng.

     Đỗ Huy Tăng sao lục, Ngô Ngọc Can kiểm duyệt                                                : 287

3802. TỐI LINH HOÀNG ĐẾ TÔN THẦN NGỌC PHẢ LỤC.                            A. 1033

     Thần sắc của x. Độc Bộ, ph. Nghĩa Hưng, t. Nam Định về Triệu Quang Phục: Triệu Quang Phục có nỏ thần, đánh được nhà Lương, xưng đế, tức là Triệu Việt Vương. Lí Phật Tử chống lại Triệu Việt Vương  không được, dùng mưu cho con là Nhã Lang cầu hôn với Cảo Nương (con gái Triệu Việt Vương) rồi ăn cắp nỏ thần và một lần nữa đem quân đánh Quang Phục. Quang Phục thua trận, chạy ra cử Đại Nha và chết ở đấy.

     Do Nguyễn Bính, Hàn lâm viện, Đông các đại học sĩ soạn. Xã Độc Bộ chép lại năm Tự Đức 17 (1864).                                    : 358

3817.TỐNG SỬ LUẬN.    VHv. 94

     Lược sử triều Tống (từ Tống Thái tổ đến Tống Thần tông)...

     Ngô Thế Vinh biên tập và viết bài chí.

3821. TỐNG TRÂN TÂN TRUYỆN  AB. 217

     Truyện Tống Trân-Cúc Hoa, thể 6-8: Tống Trân người h. Phù Hoa, t. Hưng Yên, nhà nghèo, có hiếu, được con gái phú ông đem lòng yêu và nuôi cho ăn học. Tống Trân đi thi đỗ TN, vua định gả công chúa cho, nhưng chàng từ chối, bị bắt đi sứ nước Tần 10 năm. Vua Tần lại ép gả công chúa cho chàng. Ở nhà phú ông ép gả Cúc Hoa cho Đình trưởng. Đúng ngày cưới, Tống Trân trở về được cùng Cúc Hoa đoàn tụ.

                                                            : 368

3879. TRÊ CÓC TRUYỆN.     VNb. 78

     Truyện thơ Nôm 6-8 kể lại vụ án Trê và Cóc: Cóc ra bờ ao đẻ rồi về. Trê thấy đàn nòng nọc giống mình liền đem về nuôi. Cóc ra thăm con, bị Trê quát mắng. Cóc về phát đơn kiện. Trê bị tống giam và tra khảo. Vợ Trê chạy vạy đưa lễ lên quan cho người về điều tra, thấy đàn con giống Trê, liền cho tạm giam Cóc lại. Vợ Cóc được Nhái Bén  khuyên cứ để nòng nọc cho Trê nuôi, đến khi đứt đuôi, chúng sẽ tìm về với bố mẹ chúng. Sự việc diễn ra đúng như lời Nhái Bén nói. Cóc dẫn đàn con lên quan kiện Trê. Bấy giờ quan mới vỡ lẽ. Cóc được kiện, còn Trê bị đày đi xa.                                               : 396

3904. TRÍCH DIỄM THI TẬP  VHv. 2573

     Hoàng Đức Lương  biên tập và đề tựa năm Hồng Đức  28 (1497), Ngô Ngọc Can hiệu đính

                                                          : 407

3910. TRINH THỬ TRUYỆN.             VNb. 79

     Truyện thơ Nôm thể 6-8: một con Chuột Trắng góa chồng, đi kiếm ăn đêm, nghe tiếng chó sủa, chạy vào hang một con Chuột Đực ẩn nấp. Chuột Đực gà gẫm và đem mồi giàu sang ra nhử, nhưng không lay chuyển được lòng kiên trinh của Chuột Trắng. Vừa ra đến cửa, Chột Trắng gặp Chuột Cái là vợ của Chuột Đực đang về hang. Máu ghen nổi lên, Chuột Cái đay nghiến chồng và đến nhà xỉ vả Chuột Trắng. Mèo ở đâu chợt đến, Chuột Trắng chạy thoát

 vào cong gạo, ccòn Chuột Cái sa xuống ao. May có Hồ Sinh đuổi mèo đi, vớt Chuột Cái lên, minh oan cho Chuột Trắng.               : 410

3929. TRÚC ĐƯỜNG CHU DỊCH TÙY BÚT.

A. 1153.

     Ngô Thế Vinh giới thiệu sách Chu Dịch theo lối vấn đáp.                                               : 418

3930. TRÚC ĐƯỜNG PHÚ TUYỂN. A. 128

     Những bài phú của trường Ngô Thế Vinh, đề tài lấy trong Kinh, Truyện và cổ sử của TQ.

     Ngô Thế Vinh soạn, Nguyễn Tuân Nhất biên tập năm Tự Đức Ất Hợi (1875). Có tất cả 15 bản in.                                                            : 418

3931. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN TẬP.VHv.143

     Ngô Thế Vinh soạn, gồm: trướng, đối, liễn, hạ, tấu, biểu, sớ, tụng.                            : 418

3932. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN TẬP TÙY BÚT. VHv. 2329.

     Thủ bút của Ngô Lập Chi (chắt nội Ngô Thế Vinh) chép lại 3 bài thơ của Ngô Thế Vinh từ Trúc Đường thị văn tập.                           : 419

3933. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN THẢO.

VHv. 2352               VHv. 2351

     Văn thơ Ngô Thế Vinh gồm nhiều thể loại, cùng một số tác phẩm của học trò.           : 419

3935. TRÚC ĐƯỜNG TIÊN SINH THI TẬP PHỤ TẠP LIÊN TRƯỚNG.   A. 1641

     Thơ Ngô Thế Vinh: đề tài lấy từ các câu thơ hoặc văn trong sách cổ TQ.                    : 420

3936. TRÚC ĐƯỜNG TRƯỜNG VĂN SÁCH.

VHv 303

     Hơn 130 bài văn sách của học trò trường Ngô Thế Vinh : đề taif lấy từ Kinh, Truyện hoặc cổ sử TQ.

     Hà Nguyên Thung sao chép.                : 420

3937. TRÚC ĐƯỜNG TÙY BÚT.  VHv. 150

     Những đoạn do Ngô Thế Vinh chép từ các sách cổ TQ: Sơn hải kinh, Thượng thư, Hoài Nam Tử, Lễ Kí, Mạnh Tử, Trang Tử, Lã Thị Xuân Thu...  Sau mỗi đoạn chép thường có lời diễn giảng, bình luận, chú thích.              : 421

3940. TRÚC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH. A. 460,   A. 2181

     Những tư tưởng chủ yếu của phái Trúc Lâm. Một số bài kệ. Tiểu sử của ba vị tổ phái Thiền Tông Trúc Lâm: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang.

     Ngô Thì Nhậm soạn. Phan Huy Ích đề tựa năm Cảnh Thịnh Bính Thìn (1796).

3948. TRUNG HỌC VIỆT SỬ BIÊN NIÊN TOÁT YẾU.                            A. 328

     Tóm lược lịch sử Việt Nam từ Hồng Bàng đến Gia Long.

     Ngô Giáp Đậu soạn, Đỗ Văn Tâm nhuận chính.                                                  : 425

3949. TRUNG HỌC VIỆT SỬ TOÁT YẾU

     Ngô Giáp Đậu biên soạn, Phạm Văn Thu duyệt, Đoàn Triến, Phạm Văn Thụ, Cao Xuân Dục đề tựa. In lần đầu 1911. Có 22 bản in.

VHv. 987/11-4...                               : 426

3960. TRÙNG KHẮC TÂM ĐĂNG KẾ TRUYỀN

     Sự hình thành của thế giới gồm 9 kiếp. Kiếp thứ nhất: từ hư không cho đến khi có trời đất. Kiếp thứ hai: có nước, lửa, mặt trời, mặt trăng, bát quái. Kiếp thứ ba: có thái dịch, thái sơ, thái thủy, thái tố, thái cực, trời biến thành 36 tầng, đất cũng có 36 tầng. Kiếp thứ tư: có Bàn Cổ. Bàn Cổ chết, hóa ra vạn vật. Kiếp thứ năm: xuất hiện Tam Hoàng tức Thiên Hoàng, Nhân Hoàng, Địa Hoàng. Kiếp thứ 6: có Ngũ Đế là Nguyên Thủy Thiên Tôn, Hư Hoàng Đại Đạo, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân, Cù Vân Đại Sư. Kiếp thứ bảy: Thích Ca ra đời. Kiếp thứ 8: Thích Ca Mâu Ni thành Phật. Kiếp thứ 9: Thích Ca giảng về Phật pháp.

3964. TRÙNG TƯƠNG TÂN LỤC    AB. 492

     Truyện Tư Mã Mạo: chàng tên Trùng Tương, người đời Hán, học giỏi, thi không đậu, lại gặp lúc gia biến, phẫn chí, làm thơ văn có câu xúc phạm đến Thiên Đình. Trời sai Diêm Vương bắt Trùng Tương xuống Âm Ti để thử tài bằng cách cho xử các vụ kiện như Hàn Tín kiện Bái Công, Hạng Võ kiện 6 tướng, két quả việc nào cũng được Trùng Tương xử đâu ra đấy. Tư Mã Đạo do vậy được tha về trần gian, sau đầu thai thành Tư Mã Ý.                                               : 435

3979. TRỪNG KHÊ THI VĂN TẬP  VHv. 268

     Ngô Thạc Phủ, hiệu Ngọc Phong soạn năm 1863 (Tự Đức Quí Hợi).                           : 443

3989. TRƯƠNG VIÊN DIỄN CA. VNb. 80

     Vở chèo Trương Viên: Trương Viên, một học trò nghèo, quê ở Vũ Lăng. Mẹ chàng già yếu. Vợ chàng là Phương, con quan Thừa tướng. Trương Viên theo lệnh vua đi dẹp giặc xa. Ở nhà giặc đến, Phương phải dắt mẹ vào rừng lánh nạn. Chẳng may mẹ bị đau nặng, Phương phải khoét hai mắt của mình để cúng thần, cứu mẹ thoát chết. Sau đó nàng được Tiên Nga dạy cho nghề đàn hát, hai mẹ con dắt díu nhau đi hát rong kiếm sống. Tình cờ một hôm, Phương và mẹ đến nơi Trương Viên đóng quân, Trương Viên cho mời Phương vào hát. Mẹ con vợ chồng lúc này mới gặp nhau. Trương Viên đưa ngọc lưu li là kỉ vật ngày hai vợ chồng mới lấy nhau cho Phương xem, bỗng nhiên hai mắt của Phương lành lại như cũ. Gia đình từ đấy đoàn tụ. Trương Viên được vua phong là Tướng quốc Nguyên nhung, còn Phương được phong nhất phẩm phu nhân.                                     : 449

4000. TRƯỚNG HẠ BI KÍ HÀNH TRẠNG TẠP VĂN.                                        A. 2909

     Sự tích hai công thần triều Lê: Ngô Công Bảo và Mai Xuân Bảng.                       : 454

4022. TÙNG HIÊN BẢO QUANG NGÔ TỬ VĂN TẬP.                                              A. 2144

     43 bài văn, thơ của Ngô Đình Thái (tự Bảo Quang, hiệu Tùng Hiên) làm hộ người khác: 463

4023. TÙNG HIÊN TẬP.          VHv. 1469

     87 bài  văn của Ngô Đình Thái.           : 463

4204. TÙNG HIÊN TRƯỚNG SÁCH VĂN

             A. 530

     35 bài văn sách của Ngô Đình Thái.    : 463

4032. TÙY THỜI ĐẠI NGHIỆP BI VĂN.

VHv. 2369

     Nguyễn Nhân Khí   Hà Nam soạn năm Tùy Đại Nghiệp Mậu Dần.

     Viên mục xã Phù Liễn chép lại vào năm  Vĩnh Khánh Tân Hợi (1731), Chu Văn Liên chép lại vào năm 1952.

     Tú tài Ngô Bá Chuẩn ở Phù Liễn sao lại vào năm Thiệu Trị 2 (1842).

     Bài văn bia ở đền x. Phù Liễn, tg. Thạch Khê, h. Đông Sơn, ph. Thiệu Hóa, t. Thanh Hóa: tài học và sự nghệp của viên quan cai trị Châu Ái dưới thời thuộc Tùy.               : 467

4046. TUYẾT TRAI THI TẬP        A. 1854

     161 bài thơ dùng làm mẫu cho người học làm thơ, do Ngô Thời Ức soạn.                 : 475

4047. TƯ HƯƠNG VẬN LỤC.         A. 699

     66 bài thơ của Lê Quang Bí gửi gia đình trong 19 năm ông đi sứ TQ, bắt đầu từ năm Gia Tĩnh 33 (1554).                                        : 476

4137. TƯỜNG TỘC PHẢ KÍ.           A. 1642

     Gia phả họ Tường, vốn là họ Đỗ, ở x. Bối Khê, h. Khoái Châu, Hưng Yên. Từ thủy tổ trở xuống có 12 đời.

     Tường Duy Quý soạn, Tường Vĩnh Tuy chép năm Khải Định 2 (1917).                        : 515

4161. VẠN PHƯƠNG TẬP NGHIỆM. A. 1287

     100 bài thuốc gia truyền, do Ngô Tỉnh tự Văn Tỉnh, hiệu Trấn An soạn, Nguyễn Nho hiệu chỉnh, Nguyễn Địch sao lục. Bài tụa đề năm Cảnh Hưng Canh Ngọ (1762).                  : 529

4172. VĂN DUYÊN DIỄN HÍ.      AB. 280

     Vở tuồng diễn sự tích Văn Duyên (Đoan): Văn Duyên tên thật là Lía, người Qui Nhơn, mồ côi cha từ nhỏ, rất thương mẹ, hay bắt trộm gà vịt mang về cho mẹ. Mẹ Lía không đồng tình, răn dạy nhiều lần, đem Lía giao cho thầy học, nhưng Lía bỏ học. Sau Lía cùng với Hồ và Nhẫn vào rừng lập hội “Anh hùng hảo hớn”, thường cướp của kẻ giàu chia cho người nghèo.

                                                           : 535

4175. VĂN ĐẾ CỨU KIẾP CHÂN KINH DIỄN ÂM.                            AN. 141

     Ngô Vi Lâm diễn Nôm theo thể thơ 6-8, cuốn Văn Đế cứu kiếp chân kinh của TQ.  : 536

4223. VÂN CÁT LÊ GIA NGỌC PHẢ. A. 3181.

     Gia phả họ Lê ở th. Vân Cát, x. An Thái, h. Vụ Bản: thủy tổ là Lê Tư Vinh, con thưs 5 của Lê Bang Cơ (Nhân tông). Sau khi họ Mạc cướp ngôi vua Lê, Tư Vinh chạy về thôn Vân Cát, lấy vợ là Trần Thị Thục, sinh Tư Thắng. Thắng sinh Giáng Tiên, tức là Công chúa Liễu Hạnh.

     Hương cống Nguyễn Quốc Trinh biên soạn năm Vĩnh Tộ 5 (1623). Sao chép lại  năm Bảo Đại 15 (1940).                                      : 556

4224. VÂN CÁT THẦN NỮ CỔ LỤC. A.1927

     Sự tích vị nữ thần ở th. Vân Cát, h. Vụ Bản  thời Lê Anh tông: nữ thần tên thật là Giáng Hương, lấy một người họ Đào, sinh được 1 trai, 1 gái. Năm 21 tuổi, Giáng Hương chết. Sau lại đầu thai  lấy một người họ Lưu (chính là người chồng cũ, cũng đầu thai), sinh thêm 1 gái. Người chồng thi đỗ TS, làm quan ở Viện hàn lâm. Sau khi mất, Giáng Hương rất linh thiêng, nhân dân lập đền thờ ở Phố Cát.            : 556

4328. VIỆT SỬ TIÊU ÁN.          A. 11 ...

     Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ soạn: bình luận về một số sự kiện lịch sử VN từ Hồng Bàng cho đến cuối Trần. Sau được đưa vào Đại Việt sử kí in thời Tây Sơn.                                       : 616

4340. VĨNH GIA THÁM HOA PHAN KÍNH TRUYỆN.      VHv. 1352.      MF. 1842

     Tiểu sử, hành trạng của Phan Kính: ông húy

Sưởng, tự Dĩ Trực, hiệu Tĩnh Trai, quê ở th. Vĩnh Gia, h. La Sơn, t. Hà Tĩnh, đỗ TH (1743), được nhà Lê trọng dụng, cho làm Đông các học sĩ lúc 37 tuổi. Sau khi mất được phong làm Phúc Thần Đại Vương.                            : 622

4355. VỊNH SỬ THI QUYỂN.  A. 849.

     334 bài thơ đề vịnh thắng cảnh, danh nhân,...

Bản trên có ghi chú như sau: “Sách gia đình họ Bùi; còn một tên nữa là “Tứ hổ, An Nam tứ đại tài”, gồm Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Trác Luân, Nguyễn Bá Lân, Ngô Tuấn Cảnh” : 630

4361. VŨ DÙ THỊ TIÊN SƯ DI SỰ KHẢO.

A. 1161,  MF. 1614

     Sự tích Bùi Quốc Khải, người x. Quất Động, tg. Bình Lăng, h. Thượng Phúc, ph. Thường Tín, trấn Sơn Nam, có công dạy dân các làng Đô Quan,Tam Xá, Phi Dương,Vũ Lăng và Hương Giải làm dù. Tương truyền trong chuyến đi sứ TQ vào đời Lê Thái tông (1343-1442), Bùi quốc Khái được triều đình nhà Minh thử tài  bằng cách cho ở trong một gian nhà trên gác đã bị lấy mất cầu thang. Bùi quốc Khái phát hiện ra trong nhà có một tượng Phật, một lò hương, một bát nước sạch và 2 chiếc dù. Nhanh trí cho rằng, Phật chả lẽ bày vô cớ, ông tách đôi Phật ra, thấy có nhiều bột mì để bên trong. Có bột mì, có lò hương, có nước sạch, thế là đã có cái duy trì cuộc sống. Ông quan sát kĩ 2 chiếc dù, đặc biệt là cách làm ra nó, rồi cầm mỗi tay một chiếc, nhảy xuống sân nhà một cách an toàn. Sau khi về nước, ông truyền lại kỉ thuật làm dù cho địa phương, được dân tôn thờ ông làm tiên sư. : 633

4403. VŨ THỊ GIA PHẢ.                  A. 2941

     Gia phả họ Vũ ở ph. Thiệu Hóa, t. Thanh Hóa, bắt đầu từ thủy tổ là Vũ Uy, người Chiêm Thành theo vua Lê Thái tổ đánh quân Minh lập  nhiều chiến công, được ban quốc tính.       : 654

4436. XUÂN THU QUẢN KIẾN.  VHv. 806

     Lời bình của Ngô Thì Nhậm về các sự kiện chép trong sách Xuân Thu. Soạn năm 1786: 673

4447. XƯỚNG KHÚC TẬP THI.   AB.195

     Một số bài hát ả đào....

     Nam Dương Ngô Đình Thái, tự Bảo Quang, hiệu Tùng Hiên  soạn.                     : 679

4513. YÊN ĐÀI THU VỊNH.       A. 1697

     Thơ văn Ngô Thì Nhậm làm trong thời gian đi sứ TQ (1793).

     Tùng Hiên hiệu duyệt, Thận Trai biên tập, Thì Trí sao chép.                                : 714

 

 

 

DI SẢN HÁN NÔM VIỆT NAM THƯ

            MỤC ĐỀ YẾU

   NXB KHOA HỌC XÃ HỘI 1993

 THƯ VIÊN QUỐC GIA: VV 353/93                     

              VV356/93

 

                  TẬP MỘT

16. AN NAM HÀ TIÊN THẬP VỊNH A.441

      Mười thắng cảnh Hà Tiên: Kim dữ lan đào (Đảo vàng chắn sóng), Bình sơn điệp thúy (Bình sơn núi biếc), Tiêu tự hiểu chung (Chuông sớm chùa Tiêu), Giang Thành dạ cổ (Trống đêm Giang Thành), Thạch Động thôn vân (Thạch Động ngậm mây), Chu Nham lạc lộ (Cò đậu Chu Nham), Đông Hồ ấn nguyệt (Trăng rọi Đông Hồ), Nam Phố trưng ba (Sóng yên Nam Phố), Lộc Trỉ thôn cư (Thôn cư Lộc Trỉ) và Khê ngư bạc (Thuyền đậu Lư Khê).

93. BÁI DƯƠNG NGÔ THẾ VINH KINH HỒI TIỄN HÀNH.               A. 2639

     Thơ của bạn bè, học trò...tiễn Ngô Thế Vinh về quê dưỡng lão.

     Dươngg đình Ngô Thế Vinh biên tập.    : 56

94. BÁI DƯƠNG NGÔ TIÊN SINH THI TẬP  A.2449.

     350 bài thơ của Ngô Thế Vinh  dùng làm khuôn mẫu cho học trò và 350 bài thơ luyện thi ở trường Ngô Thế Vinh.                    : 56

95. BÁI DƯƠNG THI TẬP.              VHv. 142  

     382 bài thơ của Ngô Thế Vinh làm trong 2 năm 1841-1842, gồm thơ thuật sự, vịnh sử, cảm hoài,...                                                  :57

96. BÁI DƯƠNG THƯ TẬP.          VHv. 139 

     Tập văn của Ngô Thế Vinh, gồ thư từ trao đổi với đồng liêu, bạn bè, câu đối, văn mừng,..

Văn bia 12 đời vua Trần, văn bia nhà thờ họ Đoàn, họ Đào,...                                : 57

103. BẢN QUỐC DỊ VĂN. A. 3178 , A.3197

     30 truyện lạ, gồm truyện dân gian; truyền thuyết lịch sư; giai thoại, truyền thuyết về các nhân vật lịch sử. Trong phần sau cùng này,có bài viết về Ngô Tuấn Cung.                : 62

     (Dân gian có câu: Tuấn Cung, Tuấn Dị hữu nhị vô tam).

234. CHIẾU BIỂU PHÚ HỢP TUYỂN          VHv. 1926

       Đầu đề 3 kì thi Hội năm Ất Sửu (1965); một số bài văn sách, thơ phú của những người thi đỗ, trong đó có Ngô Văn Phát.

262. BÌNH VỌNG NGUYỄN THỊ GIÁP PHÁI GIA PHẢ.               A. 634

     Gia phả chi Giáp của họ Nguyễn l. Bình Vọng, h. Thượng Phúc, ph. Thường Tìn. Chi này vốn trước là họ Lê.

     Do Kính Trai Nguyễn Thức biên  tập, Ngọc Đường Nguyễn Dư hiệu chỉnh năm 1828, Tùng Hiên Nguyễn Triết Huân viết tựa 1829    :157.

279. BỒI TỤNG CÔNG VĂN TẬP  A. 527

     Cựu văn ban Ngô Trọng Khuê biên tập. Thơ văn của Ngô Duy Viên (tức Ngô Trọng Khuê), làm quan Bồi tụng cuối đời Lê, gồm: thơ dạy con, tuyệt bút, tiễn bạn bè....                : 165

295. BÚT HOA TÙY LỤC.          A. 2690

     Hương Thụ Sơn Nhân biên tập năm 1893.

     Văn thơ mừng Nguyễn Đỉnh Thần đỗ TS (1892) của những người trong họ trong thôn, họ ngoại và của: Hoàng Cao Khải, Ngô Quang Huy, Bùi Hướng Thành,...                  : 174.

        (Có lẽ là Nguyễn Đĩnh: La Chử, Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế)

340. CẢM ỨNG THIÊN GIẢI ÂM.  AN. 116

     Gồm nguyên văn chữ Hán và bản dịch Nôm của Ngô Văn Bỉnh, hiệu Cúc Hòe.    : 199

376. CẢO PHONG CÔNG THI TẬP. A. 516

     Thơ văn của Ngô Duy Viên làm chức Bồi tụng vào cuối thời Lê. Có thơ tiễn Lê Quí Đôn đi làm Tuần phủ Thuận Hóa, thơ tặng Bùi Huy Bích. Nhiều bài làm dưới thời Quang Trung: biểu tạ ơn khi được triệu vào Phú Xuân,..  : 225

454. CHIÊU QUÂN CỐNG HỒ TRUYỆN

                 VNb.  70

     Truyện thơ Nôm 6-8, chia thành 40 đoạn, kể lại chuyện Chiêu Quân: nàng nguyên tên là Vương Tường, con gái viên quan Tri phủ họ Vương ở Việt Châu, có nhan sắc, lại có tài thi họa, được đón vào cung làm Vương phi. Quan Khâm sai Mao Diên Thọ hận vì không được cha con họ Vương trọng đãi, đã tìm cách làm hại, buộc Hán Nguyên Đế phải đem nàng cống cho vua Phiên. Trên đất Hồ, Chiêu Quân đã khéo léo mượn tay vua Phiên để diệt tên phản thần Mao Diên Thọ, và thả các tướng Hán đang bị Phiên giam giữ. Nàng lại yêu cầu vua Phiên bắc cho chiếc cầu nổi, nói là để tế thần Bạch Dương. Sau lễ tế, Chiêu quân đã từ trên cầu gieo mình xuống sông tự tử, giữ trọn tiết trinh. Em gái nàng, Trại Chiêu Quân, được Tiên ban cho phép lạ, lại được tuyển làm Chánh cung, đem quân đánh Hồ, báo thù cho chị và rửa hận cho nhà Hán.                                  : 267

526. CHƯ ĐỀ MẶC.         VHv. 18

     Trong tập thơ văn đề vịnh này, có Nhị Thanh động mặc tích gồm thơ, phú, bi kí về động Nhị Thanh ở Lạng Sơn. Bài tán về bức tranh truyền thần và bài phú động Nhị Thanh của Ngô Thì Sĩ.                                                         : 310

552. CỐ LÊ TẢ THANH OAI TIẾN SĨ NGÔ THÌ SĨ CÔNG THI SAO=CỐ LÊ NGỌ PHONG MẶC NGẤN.         VHv. 21

     Gồm 3 tác phẩm:  1. Nhị Thanh thi văn tập

2. Quan lan tập 3. Vọng triều tập.   : 325

564. CỔ KIM TRÙNG TÍNH TRÙNG DANH KHẢO.                           VHb. 271

      Bảng tra các nhân vật lịch sử trùng họ, trùng tên từ xưa cho đến thời cận đại. Dưới tên mỗi người có ghi rõ quê quán, thời đại, chức tước.

     Đặng Xuân Khanh, hiệu Mai Phong  biên tập.                                                           :336

597. CÚC ĐƯỜNG BÁCH VỊNH THI TẬP.   A. 1168

    Trong đó có thơ xướng họa giữa Ngô Thì Nhạm và Phan Huy Ích.                         : 355

609. CÚC THU BÁCH VỊNH TẬP.   A. 1554

     100 bài thơ xướng họa giữa Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm trong dịp tết Trùng Dương:362.

637. CỨU SINH TRỊNH THÁNH TỔ SỰ TÍCH.  VHv. 2946.   

     Sự tích Hòa thượng Trịnh Hợp: ông tên húy Như Như, tên hiệu là Lân Giác, người Sóc Sơn, Vĩnh Phú là con thứ 11 của Tham tể Tấn Quang Vương. Trịnh Hợp sinh năm 1696, lớn lên rất thông minh, tuấn tú, được vua Hy tông gả Công chúa. Nhưng ông bỏ di tu ở chùa Yên Tử. Sau trở thành Bồ Tát.                                     : 374.

 666. DANH HỔ KHIẾU ĐỘNG SAN THÀNH LƯU ĐỀ THẠCH BÍCH THII TỊNH KÍ =HỒ KHIẾU ĐỘNG ĐỀ THI TỊNH KÍ.

 VHv. 1787 

     Có bài kí của Ngô Thúc Hựu đề ở động Hồ Khẩu, trên núi Hổ, h. Vụ Bản.               : 392

695. DAO ĐÌNH THI TẬP.               A. 1852

     Trong đó có Quan Lan Sào thập cảnh gồm 129 bài thơ của Ngô Thì Sĩ và một số người khác đề vịnh các thắng cảnh ở x. Cự khánh, h. Đông Sơn, Thanh Hóa.                        : 407       

701. DI ÁI XÃ TRẦN GIA PHẢ KÍ. A.681

     Hành trạng Trần Mô: ông nội Mô là Trần Thánh Ca, người Phúc Kiến, TQ, tránh loạn đời Thanh đến x. Di ái, h. Dan Phượng làm nghề dệt gấm. Trần Mô đỗ TS năm 1733, làm Đông các Đại học sĩ.                                     : 410

708. DI TRẠCH ĐƯỜNG PHẢ KÍ.   A. 1294

     Gia phả 6 đời họ Nguyễn Huy ở x. Phú Thị, h. Gia Lâm, có thơ văn của Nguyễn Huy Cận.

     Tiền quân Văn hầu Nguyễn Huy Doanh, biên tập, Viên Am Nguyễn Huy Quýnh hiệu đính,  Ngô Quế Hương viết tựa từ 1802-1804.

746. DU HƯƠNG TÍCH ĐỘNG KÍ.  A. 2814

     Trong đó có: Du Hương Tích động thi tập: do  Án sát  Hà Nội Đặng Lương Hiên soạn, Nguyễn Chí Đình phẩm bình, TS Nguyễn Tùng Thúc phê duyệt, TS Ngô Tham bình luận.  : 431

782. DƯƠNG ĐÌNH PHÚ LƯỢC.   VHv. 430     

     Những bài phú của Ngô Thế Vinh và các tác giả khác như Đỗ Phát, Ngô Bảo Phong, Phạm Vĩ, Dặng Huy Trứ...                             : 451

783. DƯƠNG ĐÌNH PHÚ PHẢ.       A. 1607

     65 bài phú của Ngô Thế Vinh, dùng làm mẫu cho lối văn thi cử.                         : 451

784. DƯƠNG ĐÌNH TANG SỰ THI TRƯỚNG ĐỐI LIÊN TẬP.                       A.1243

     Thơ, văn tế, văn đối sử dụng trong dịp lễ tang của thân phụ, thân mẫu, anh cả (tên là Tùng Hiên), con trưởng (tên là Ngô Thế Quý) của Dương Đình.                                

     Môn sinh, CN Vũ Doãn Khải biên tập:   451

785. KHẤP VÃN DƯƠNG ĐÌNH THI TRƯỚNG TẬP.                       A. 1302

     Thơ, trướng văn, câu đối, văn tế, ...của đồng liêu, bạn hữu, đồng tộc khóc Ngô Thế Vinh, trong đó có những tác giả như Đỗ Trọng Khiêm, Nguyễn Văn Đạo, Nguyễn Giang Hiên, Giám Hồ, Ngụy Khắc Tuần, Phạm Văn Nghị, Nhữ Bá Sĩ, Hà Tông Quyền,..            : 452

811. ĐẠI ĐIÊN THÁNH SỰ TÍCH.   A. 2721

     Sự tích thánh Đại Điên ở th. Tiền, x. Dịch Vọng, h. Từ Liêm: Ông tên húy là Lê Nghĩa, một nhà sư triều Lý, đạo thuật rất tinh thông, có công giúp vua. Sau khi  mất, ông được phong là Lê Đại Điên Giác Hoàng Thiền Sư và đượcc dân x. Dịch Vọng lập đền thờ.

     Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc thứ nhất (1572), Nguyễn Hiền phụng sao năm Vĩnh Hựu 3 (1737). Chép lại vào năm Duy Tân 9(1915):466

825. ĐẠI MỖ NGUYỄN TỘC TÂM ĐẠI VƯƠNG PHẢ KÍ. VHv. 1337, VHv. 1338

      Trong đó có  Thám hoa quốc lão trí sĩ Thái tể đại vương phả kí do Hà Tông Huân, Nghiêm Bá Đĩnh soạn năm Vĩnh Hựu 2 (1936) ghi về hành trạng của Nguyễn Quý Đức.         :  473

871. ĐẠI NAM QUỐC TÚY.           AB. 178

     1800 câu phương ngôn, tục ngữ, xếp thành 46 bài (mục). Ngoài ra còn có khoảng 600 câu ca dao.

      Tam Thanh Hiếu liêm Ngô Giáp Đậu biên tập năm Duy Tân 2 (1908).                  : 500

911. ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TIỀN BIÊN. A.2/1-7

     Ngô Thời sĩ biên soạn. Khắc in năm Cảnh Thịnh 8 (1800).                              : 525

953. ĐẶNG PHẠM TỘC GIA PHẢ. A. 3043

     Gia phả 10 đời của họ Đặng Phạm ở l. Từ Liêm. Họ này trước là họ Phạm, đến đời thứ 3, An Trung đổi thành Đặng.                       : 550

1011. ĐIỆN THỪA LIÊN KHÊ CÔNG NIÊN PHẢ.                        A. 1005

     Tiểu sử của Nguyễn Liên Khê: tổ tiên nguyên họ Lê, đến đời Nguyễn Hữu Đăng đổi thành họ Nguyễn, ở Phường Phúc Bồ, ph. Phụng Thiên. Liên Khê từng đỗ Điện thí, làm Cổ Pháp  điện Tự thừa.                         : 575

1114. ĐÔNG ĐỒ XÃ NGÔ GIA PHẢ KÍ.

A. 1487

     Gia phả  6 đời của họ Ngô ở x. Đông Đồ, h. Đông Anh. Họ này vốn ở th. Xuân, x. Đồng Bàng, h. Yên Định, ph Thiệu Thiên, xứ Thanh Hóa, có Ngô Tây, Ngô Kinh, Ngô Từ là công thần triều Lê.                                     : 626

1128. ĐÔNG NGẠC NGUYỄN TỘC THẾ PHẢ.                        A. 1434,  A. 652

     Gia phả họ Nguyễn ở x. Đông Ngạc, h. Từ Liêm: thủy tổ là Đào Quý Công hiệu Thủ Phận, TS triều Lê, quán x. Phù Đỗng, h. Tiên Du, trấn Kinh Bắc, con thứ của Phò mã Đào Tướng công, vì gia biến, chuyển tới l. Nguyệt Áng, h. Thanh Trì, đến đời Phú Khiên, chuyển về Đông Ngạc, đổi thành họ Nguyễn.

Bài tự làm năm Kiến Phúc thứ nhất (1884): 633

1324. HÀN CÁC ANH HOA=NGÔ GIA VĂN PHÁI HI DOÃN CÔNG TẬP.    A. 2170

     20 bài khải, chiếu, biểu của Ngô Thì Nhậm soạn vào cuối Lê và thời Tây Sơn.          : 746

1328. HÀN CÁC VĂN THỂ TRÌNH THỨC.

 A. 281

     Những bài văn trúng cách trong các khoa thi Hội đời Lê. Mỗi bài đều có ghi tên người soạn, như Phạm Khiêm ích, Vũ Công Trấn, Nguyễn Công Thái, Hà Tông Huân, Ngô Bật Lượng, Hoàng Nghĩa Phú, Bùi Cầu, Đào Nghiễm.: 749

1369. HIỆN KIM BẮC KÌ CHI ĐỊA DƯ SỬ.

A. 398

     Lịch sử Bắc Kì và địa dư 2 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng), 2 đạo (Hà Dương, Lai Châu) và 25 tỉnh thuộc Bắc Kì.

     Giáo thụ phủ Hoài Đức  Ngô Giáp Đậu biên soạn.                                            : 773

1431. HOAN CHÂU PHONG THỔ KÍ

       VHv. 1719               VH v. 1458  

     Địa lí Nghệ An, do Đốc Đồng Nghệ An là Trần Danh Lâm soạn.

     Bản VHv. 1719 còn có  Đông Thành phong thổ kí của Ngô Trí Hiệp soạn.            : 810

1432. HOAN CHÂU PHONG THỔ THOẠI

     VHv. 1376

     Trong đó có Nghệ An phong thổ kí  do Bùi Dương Lịch soạn. Có 42 bài thơ vịnh  phong cảnh Nghệ An cử Ngô Thời Phùng, Lê Hồng Phổ, Trần Thức Cốc, Đỗ Phúc Ngũ,        : 812

1439. HOÀNG CÁC DI VĂN.   A. 2137

     Văn kiện nhà nước thuộc 3 triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị.

     Ngô Thế Vinh biên tập và viết tựa  năm Thiệu Trị 7 (1847).                              : 818

1441. HOÀNG CHIÊM ĐỊA LÝ CẢO. A. 458

     126 hình vẽ các kiểu đất quý của các địa phương trong nước.

     Hoàng Chiêm tức Nguyễn Đức Huyền, hiệu Phú Hưng, người l. Tả Ao, h. Nghi Xuân : 821

1447. HOÀNG HOA ĐỒ PHẢ.   A. 2871

     115 bài thơ của Ngô Thì Nhậm làm trong dịp đi sứ TQ năm Quý Sửu (1793) để báo tang Quang Trung và cầu phong cho Quang Toản   

                                                :824

1492. HOÀNG VIỆT LONG HƯNG CHÍ. A.23

     Tiểu thuyết lịch sử 34 hồi, nói về quá trình xây dựng cơ  nghiệp của  nhà Nguyễn, kể từ Nguyễn Kim phò Lê chống Mạc cho đến khi Gia Long đánh Tây sơn, bắt đượcc Quang Toản, lập nên triều Nguyễn.                   :  851

1501. HOÀNG VIỆT THÁI PHÓ LƯU QUÂN MỘ CHÍ.          A. 1027

     Soạn năm Thiên Thuận 3 (1130).

     Mộ chí của hai anh em Lưu Khánh Đàm và Lưu Khánh Ba, người th. Yên Lãng, quận Cử Chân, đều kês nhan làm chức Thái phó triều Lí, khi mất được phong làm Thành hoàng.

     Bài văn bia do Ngô Thế Vinh soạn năm Tự Đức 8 (1955).                                 :    856

1512. HOẠT NHÂN BỊ YẾU.     A. 2798

     Phú, Luận, ca nói về  phép chẩn mạch, xét khí sắc con người, tính chất và cách thức dùng một số thuốc Nam, Bắc..             : 862

1561. HÙNG TRIỀU NGÔ TƯỚNG CÔNG SỰ TÍCH VĂN.        AB. 359

      Bài văn chầu kể sự tích Ngô Long, con một thầy lang người TQ đời Tần, lánh nạn sang l. Thanh Qua, h. Thanh Oai, có tài văn võ, giúp vua Hùng thứ 18 dẹp giặc, được phong tặng Thượng Trụ Quốc Công.                        : 893

1591. HƯƠNG MẶC XÃ NGÔ TỘC GIA PHẢ.                          A. 675

     Gia phả  do cháu nhĩ tôn Nguyễn Trọng Quýnh, tự Đạo Hiên biên tập năm Mậu Ngọ 

                                                            : 909 

               HẾT TẬP MỘT

 

1622. KHẢI ĐỊNH NGỰ GIÁ NHƯ TÂY THI TẬP           VHb. 2

      Có nói tới con cháu Nguyễn Văn Chấn (Dayot), Nguyễn Văn Thắng (Vannier), Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine)       : 5

1624. KHẢI TIẾN THI BIÊN A.1226

     Ngô Đôn biên tập, Nguyễn An Chi duyệt bình. 112 tr.                                   : 7

1645. KHẢO XÍCH ĐẠC BỘ PHÁP

VHv  2556

     Ngô Thế Vinh biên tập, chép lại năm Hàm Nghi 1 (1885). Khảo cứu cách đo đạc bằng thước và bằng bộ (bước chân) từ thời Hoàng Đế, Hạ, Thương, Chu đến Hán, Đường, Tống                         : 18

1679. KHỔNG LỘ, GIÁC HẢI NHỊ THÁNH TỔ SƯ                A. 2961

     Sự tích hai vị thánh tổ Khổng Lộ và Giác Hải: Khổng Lộ tức Nguyễn Chí Thành người l. Đàm Xá, h. Gia Viễn, t. Ninh Bình.

     Giác Hải tức Nguuyễn Quốc Y người, h. Hải Thanh, h. Giao Thủy, t. Nam Định . Hai người cùng sang Tây Trúc học đạo và kết bạn với Từ Đạo Hạnh. Về nước, Khổng Lộ chữa khỏi bệnh cho Lý Thần tông, được phong là Quốc sư, Giác Hải trừ được Mộc Tinh, được ban họ vua.                    : 35

1684. KHÚC GIANG NGÔ DƯƠNG ĐÌNH VĂN TẬP    A. 803

1691. KHƯƠNG CÔNG PHỤ SỰ TRẠNG KHẢO               A. 2912       MF. 1549

     Khương Công Phụ, tự Văn Khâm, người phường Cổ Hiểm, h. Cửu Chân, châu Ái, đỗ TN đời Đường, làm Tể tướng đời Đường Đức Tông, sau bị truất làm Biệt giá ở Tuyền Châu, đến đời Thuận Tông lại được bổ làm Thứ sử ở Cát Châu và bị bệnh chết ở Tuân Hóa thuộc Khâm Châu. Tại đó hiện có đền thờ ông.               : 42

1706. KIẾN SƠN SÀO THI VĂN TẬP

VHv 258/ 1-3

     Huyền Đồng Tử (Ngô Quý Đồng) soạn năm Tự Đức 4 (1851) gồm khoảng 750 bài thơ, 40 bài văn.   Có bài kí nói  về nước Việt Nam muốn đuổi kịp các nước văn minh thì phải bỏ lối học khoa cử cũ, mà phải học khoa học, học thực tế                                                       : 49

1708. KIẾN VĂN LỤC VH 1155 MF. 2411

     Vũ Trinh (1739-1828) hiệu Nguyên Hanh biên tập, trong đó có một số thần thoại hoặc truyền thuyết: Hồn Trương Ba da hàng thịt..

     Phần cuối có Tây Sơn thực lục tóm tắt triều Tây Sơn.                                        : 51

1716. KIỂU ĐẠI VƯƠNG THƯỢNG ĐẲNG THẦN KÝ LỤC                   A. 2625

     Ngô Thế Vinh biên tập, Ngô Đình Thái chép sự tích Kiều Công Hãn, quê Phong Châu làm Đề sát giám quốc sự thời Ngô, sau chiếm giữ Thai Châu, Hào Châu và Phong Châu, xưng là Kiểu Tam Chế, một trong số 12 sứ quân. Sau khi mất, được dân làng lập đền thờ.       : 55

1737. KIM NGỌC QUYỂN  AB. 152 MF.1830

     La Khê tiên sinh soạn (có lẽ là người họ Ngô), Thạch Viên chủ nhân  chú giải về hơn 400 bài thuốc chữa bệnh người lớn và trẻ em.

1740. KIM SƠN GIA PHẢ          A. 943

     Nguyễn Mậu Tài biên soạn năm Chính Hòa 1691. Gia phả họ Nguyễn, trước là họ Lê ở l. Kim Sơn, Gia Lâm, HN. Trong dòng họ có nhiều người đỗ đại khoa như: Nguyễn Mậu Tài (Ts. 1646), Nguyễn Mậu Di (Ts. 1659), Nguyễn Mậu Thịnh (Ts.1691), Nguyễn Duy Viên (Ts. 1694).                                                  : 68

1761. KINH BẮC NHƯ QUỲNH TRƯƠNG THỊ QUÝ THÍCH THẾ PHẢ.      A. 959

     Lê Quý Kiệt biên tập năm Cảnh Hưng 40 (1779). Gia phả họ Trương ở Như Quỳnh, ông tổ Trương Lôi tự Cự Khanh, gốc Thanh Hóa, có công giúp vua Lê, được phong Khai quốc công thần. Sau con cháu dời đến Như Quỳnh, h. Gia Lâm. Trong họ có Trương Bà, tên húy là Trong, từng là Thị nội cung tần, Thương Hòa Tôn Thái Phu Nhân (em trai bà là Quốc cậu, bị kiêu binh phá nhà và là bố vợ Đại tư đồ Hoành Quận công Ngô Phúc Phương).                         : 79

1796. LA KHÊ XÃ TÂY THÔN  KHOÁN ƯỚC.                                          A. 970

     Khoán ước của họ Ngô -La Khê về việc thờ thần, vào đám, ma chay, cưới xin và thể lệ tô thuế ruộng chùa, ruộng hậu...                  : 95

1803. LA TỔ TRUYỆN                 A. 2560

     Truyện La Thị người Tức Mặc, NĐ, đi lính thú sang Thiểm Tây, gửi vợ con ở nhà cho người bạn họ Lý, Khi trở về biết vợ  ngoại tình với bạn,  bèn bỏ đi tu, thành đạo, gọi là La Tổ. Sau người con cũng đi tu gọi là Tiểu La Tổ: 99      

1821. LAM SƠN VĨNH LĂNG DỤ LĂNG BI SAO.                     VHv.   1384/1-2   MF. 1647

     Bản sao hai bài văn bia: 1) Bài khằc ở bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn năm 1435, ghi niên hiệu, nguồn gốc, sự nghiệp của Lê Thái tổ (1385-1433). 2) Bài khắc ở bia Dụ Lăng do Nguyễn Nhân Thiếp và Phạm Thịnh soạn năm 1504, ghi niên hiệu, nguồn gốc, sự nghiệp của Lê Hiến tông (1498-1504).                      : 109

1827. LAN KHÊ NGUYỄN TỘC PHẢ

VHv.  1339/1-2.

     Gia phả họ Nguyễn ở l. Lan Khê, h. Nông Cống.Vốn họ Hà ở l. An Lãng, ph. Thiệu Hóa; đến đời Lê Thánh tông, hai anh em Hà Thọ, Hà Thiệu mộ dân tới Nông Cống khai hoang và lập thành l. Lan Khê. Sau Hà Thiệu (đời thứ 7) làm con nuôi họ Nguyễn ở l. Đức Trạch, đỗ TS đổi thành họ Nguyễn (nay đã trở lại họ Hà).   : 112

1848. LẬP TRAI PHẠM TIÊN SINH THI TẬP

     Phạm Lập Trai (Quý Thích) soạn, Ngô Duy Viên sơ duyệt, Bùi Tồn An biên tập.

A. 400                                                  : 122

1850. LẬP TRAI THI TẬP     VHv. 1462/1-2

     Trong tập này có Nghĩa Khê thi tập (trong VHv. 2244 từ tr.96-121) của Phạm Sĩ Ái, người xã Trung Lập, h. Đường Hào, t. Hải Dương.  :123        

1919. Đinh Nhạ Hành là cháu 6 đời Đinh Văn Tả, người l. Hàm Giang, h. Cẩm Giàng  : 160

1936. LÝ THỊ GIA PHẢ        A. 1075

      Lý Văn Phức biên tập năm Minh Mệnh 2 (1821). Gia phả họ Lý ở phường Hồ Khẩu, HN nguyên gốc ở l. Tây Hương, h. Long Khê, t. Phúc Kiến. Đến đời Lý Khắc Liêm, quan Tổng đốc tỉnh Vân Nam không chịu thần phục triều Mãn Thanh, trốn sang định cư ở phường Hồ Khẩu, truyền 6 đời đến Lý Văn Phức:       168 .           

1943. LỊCH ĐẠI DANH HIỀN PHẢ  A. 2245

     Tiểu sử, quê quán 178 người  đỗ đại khoa từ cuối Trần đến Lê Chiêu Thống.            : 171

1944. LỊCH ĐẠI DANH THẦN SỰ TRẠNG

     42 truyện danh thần và liệt nữ dưới triều Lê và Mạc, trong đó có Ngô Công Hoán (BN) và có nói gốc tích họ Ngô ở Hoàng Xá (tr. 112).

A. 264 MF. 337                                   : 172

1948. Phan Viễn Khanh tức Phan Huy Quýnh (1775-1844) là anh Phan Huy Chú.       : 174

1975. Phan Huy Sảng (1764-1811) là em Phan Huy Ôn (1755-1786).

1992. LIỆT THÁNH BẢO CÁO    A. 2403

     Văn giáng bút của Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, khuyên làm điều tốt, bỏ điều xấu: 197

1995... NGÃ QUỐC NHÂN NHẬP SĨ TQ

     Những người VN làm quan ở TQ: Lý Thân, Vương Trung, Đặng Nhượng, Lý Tiến, Lý Cầm, Nguyễn Gia, Khương Công Phụ, Triệu Thái, Nguyễn An, Dương Công Liên, Trương Ngạn Sán, Lê Dung, Trần Nho, Lê Nguyên Hồng, Lê Vinh Đình...

2048. LUẬN BIỆN TÁN TỤNG CA CHÂM VĂN TẬP.                           A. 1264

     Cao Huy Diệu, Hà Tông Huân, Lê Anh Tuấn biên tập gồm 28 bài luận, biện, tán... đề tài lấy trong sử sách TQ về các vấn đề đạo đức, chính trị, xã hội...                                            : 227

2056. LUẬN NGỮ THÍCH NGHĨA CA

A.186/ 1-2 VÀ VHv 709/3-6

     Tự Đức biên soạn, Hoàng Hữu Xứng, Ngô Huệ Liên duyệt, Hoàng Bỉnh, Nguyễn Hiệu kiểm hiệu. Diễn Nôm theo thể 6-8, 20 thiên sách Luận ngữ                                          : 230                                                  

2093. LƯƠNG GIA THẾ PHẢ VHb. 57, MF1764.

Gia phả họ Lương ở l. Bùi Xá (Tam Đồng) Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông tổ Lương Quý Hương, tự Phương Khê thụy Hoa Ngạc, hiệu La Tào. Do cháu 12 đời là Nhật Tỉnh biên tập năm Minh Mệnh 6 (1825).                                      : 248

2099. LƯƠNG XÁ ĐẶNG THỊ PHẢ

VHv. 1341/1-5

     Gia phả họ Đặng ở x. Mạc Xá (Lương Xá), h. Chương Đức, do Ngô Thì Nhậm viết tựa. Họ này là dòng dõi của Trần Hưng Đạo, đến đời Trần Văn Huy, đỗ TS triều Lê, lấy tên hiệu là Đặng Hiên. Từ đấy về sau con cháu đều đổi sang họ Đặng như Đặng Dư, Đặng Toản, Đặng Khuê. Trong họ có nhiều người hiển đạt như: Đặng Huấn, Đặng Tiến Vinh, Đặng Thế Tài, Đặng Tiến Thự... sau có Đặng Trần Thường theo Gia Long chống Tây Sơn làm tới chức Binh bộ thuợng thư...                                 : 252

2128.  MAI DỊCH TRÂU DƯ VĂN TẬP

VHv. 1417 và A. 1280

     Ngô Thì Vị biên soạn: 93 bài thơ, 1 bài ca, 12 bài phú vịnh phong cảnh, cổ tích trên đường đi sứ TQ vào khoảng 1820-1821.       : 267

2139. MÃO CẦU TRẦN TỘC PHẢ      A. 680

     Gia phả họ Trần từ đời thứ 5 đến đời thứ 15 ở x. Trần Xá, h. Nam Xang, Hà Nam. Họ này vốn ở x. Tức Mặc, h. Mỹ Lộc, Nam Định, sau

 chạy loạn đến Trần Xá                  : 272

2183. MỘ TRẠCH LÊ THỊ PHẢ A.658

     Gia phả họ Lê ở l. Mộ Trạch, h. Bình Giang, t. Hải Dương: thủy tổ là Lê Nhữ Huy, quê ở Lão Lạt, h. Thuần Lộc, Châu Ái, sau chuyển ra quê vợ l. Mộ Trạch. Con trai Nhữ Huy là Lê Cảnh Tuân sinh ra Lê Thúc Hiên và Lê Quý Đỉnh đều có công giúp Lê Thái tổ dẹp giặc Minh, từ đó hiển đạt đến 35 đời.                                 : 294

2191. A. 1102 có tiểu sử công thần triều Nguyễn:  Ngô Đức Tuấn...                      : 298

2243. NAM HÀNH THI KÍ       A. 1946.

     Giải nguyên Ngô Tùng Hiên soạn: gồm 35  bài thơ vịnh cảnh... trên đường  từ Hà Nội vào Huế năm 1820.                                         : 327

2252. NAM PHONG GIẢI TRÀO AB. 348, AB. 232.

     Ca dao tục ngữ VN dịch từ Nôm ra Hán.

Trần Liễu Am và Ngô Hạo biên tập, Trần Doãn Giác đề bạt.                                             : 331    

2305. NAM XANG LIỆT NỮ TRUYỆN.

AB. 125

     Truyện Võ Thị Thiết vf chồng là Trương Sinh ở h. Nam Xang. Trương Sinh đi lính. Ở nhà, tối đến trước ánh đèn, Thieets thường chỉ bóng mình  dỗ con: “Cha mày đấy”. Do vậy, khi Sinh về, con không nhận cha, nói: “Cha tôi đến tối mới về”. Bị chồng ngờ là ngoại tình, Thiết nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử.

     Mai Đình Nguyễn Hòa Hương soạn.   : 359

2330. NGHĨA KHÊ THI TẬP VHv. 2345

     Có tập thơ của Phạm Sĩ Ái gồm:thơ tiễn, tặng viếng bạn, đề vịnh...

2337. NGOẠI LÃNG DOÃN TƯỚNG CÔNG PHẢ KÝ          VHv. 1747

     Hành trạng và sự nghiệp của Doãn Uẩn, người l. Ngoại Lãng, h. Thư Trì, t. Thái Bình. Ông nhà nghèo, 34 tuổi đỗ CN, làm án sát tỉnh Định Tường, có công dẹp loạn Lê Văn Khôi, được phong An Tây mưu lược tướng.       : 374

2343. NGỌC ĐỒNG HƯƠNG ƯỚC A. 324

     Hương ước của l. Ngọc Đồng, h. Kim Động, t. Hưng Yên, do Trần Đình Nguyên, Nguyễn Tín Thi, Ngô Văn Đạo biên tập năm 1913 : 380

2345. NGỌC HOA CỔ TÍCH TRUYỆN AB 60

     Truyện thơ Nôm kể lại mối tình chung thủy giữa Phạm Tải và Ngọc Hoa: Ngọc Hoa là con gái một nhà giàu họ Trần. Nàng thông minh lại có nhan sắc, mới 13 tuổi đã có nhiều nơi quyền qúi đến cầu hôn, nhưng nàng đều không ưng. Một hôm Phạm Tải, một học trò nghèo đến nhà nàng xin ăn. Thấy chàng có tài, có đức, nàng đem lòng yêu dấu và sau đó lấy làm chồng. Biện Điền vì không cưới được Ngọc Hoa, đã tạc tượng nàng dâng cho Trang Vương. Ngọc Hoa bị bắt vào triều. Trang Vương tìm mọi cách mà vẫn không chinh phục nổi trái tim của nàng, bèn chuyển sang giết Phạm Tải. Ngọc Hoa tức giận tự rạch mặt mình cho xấu đi, nhưng Trang Vương vẫn một mực đeo đẳng. Nàng thấy vậy, đành vờ chấp thuận, hẹn ba năm sau mãn tang chồng sẽ lấy hắn. Đến ngày mãn tang, nàng tự vẫn để giữ lòng chung thủy với chồng. Dưới âm phủ, Phạm Tải cùng Ngọc Hoa làm đơn kiện lên Diêm Vương, tố cáo tội ác của Trang Vương. Kết quả Trang Vương bị ném vạc dầu, Phạm Tải và Ngọc Hoa đều được trở về dương thế và chàng đã trị vì đất nước thay Trang Vương.   

                                                    : 382

2347. NGỌC KIỀU LÊ TÂN TRUYỆN

VN.b 76

     Truyện thơ Nôm 6-8, kể lại mối tình chung thủy giữa Tô Hữu Bạch và Hồng Ngọc. Hồng Ngọc là cô gái vừa có nhan sắc, vừa giỏi văn thơ. Quan Ngự sử Dương Đình Chiếu dạm hỏi nàng cho con trai mình, nhưng bị khước từ, đã tiến cử Bạch Thái Huyền là cha của Hồng Ngọc đi sứ đất giặc. Bạch công phải gửi Hồng Ngọc cho bạn là Ngô Khuê. Vẫn bị Dương Đình chiếu tìm cách ép duyên. Ngô Khuê phải đưa gia quyến cùng Hồng Ngọc về quê trốn tránh. Thời gian ở gửi nhà họ Ngô, Hồng Ngọc đổi tên là Vô Kiều, phỏng theo tên người con gái xấu xí họ Ngô là Vô Diễm. Một lần đi thăm chùa, gặp nho sinh Tô Hữu Bạch, vừa đẹp trai vừa giỏi thơ văn, Ngô Khuê muốn gả Hồng Ngọc cho Tô. Nhưng khi đến xem mặt, chàng Tô lại gặp con gái Ngô Khuê xấu xí. Chàng từ chối.

     Trên đường đi Tràng An, Tô gặp Yên Tố, người hầu gái của Hồng Ngọc. Nhờ Yên Tố giúp đỡ, Tô và Hồng Ngọc đã cùng nhau hẹn ước kết duyên. Một buổi ngao du, Tô gặp Lư Mộng Lê đang cải trang nam giới, hai người rất ý hợp tâm đầu. Mộng Lê hứa gả “em gái” cho Tô. Sau đó Tô thi đỗ TS, bị Dương Tuần Phủ ép gả  em gái cho, chàng phải đổi tên là Liễu Tú tài để trốn, gặp Bạch công lúc này đổi tên là Hoàng Phủ đang đi tìm mình. Thấy Liễu tài hoa, lại thấy việc tìm Tô là mong manh, Bạch công nảy ý gả Hồng Ngọc và cháu là Lư Mộng Lê cho Liễu. Liễu từ chối. Giữa lúc Hồng Ngọc và Mộng Lê đang đau khổ vì ý định của Bạch công thì Ngô Khuê đến. Một cuộc tranh cãi quyết liệt giữa Bạch công và Ngô Khuê: Một bên ca ngợi chàng Tô, một bên ca ngợi chàng Liễu. Đúng lúc ấy quan Hàn lâm Tô Hữu Bạch xuất hiện trong vai Tú tài Liễu. Thế là mọi việc đã sáng tỏ. Mọi người vui vẻ làm lễ cưới cho Tô Hữu Bạch với cả ba cô gái: Hồng Ngọc (tức Vô Kiều), Mộng Lê và Yên Tố. : 382

2351. NGỌC THAN XÃ NGUYỄN THỊ TỐN CHÚC TỪ               VHv. 2644

     Di chúc của Nguyễn Thị Tốn ở x. Ngọc Than để lại cho 2 con trai là Đỗ Lai Thi và Đỗ Lai Tuyên, do Đỗ Lai Triết soạn năm 1862: 385

2357. NGÔ CÔNG HUẤN TỬ VĂN. A. 2219

     Bài thơ dài, mỗi câu 5 chữ của Ngô Duy Viên, khuyên con gái chăm học, sửa mình, giữ nết thảo hiền, không ham danh lợi...         : 387

2368. NGÔ TỘC  TRUY VIỄN ĐÀN PHẢ A.647

     Trần Danh Án, Phạm Giáp Thiên (Giao Khê bá), Vũ Huy Tấn (Dinh Trạch hầu) viết tựa và tán; Vũ Trinh (Lan Trì bá) viết bài thuyết; Nguyễn Cần Mưu (Vị Khê bá) viết đề dẫn; Lê Lương Thận hiệu Hi Triết viết bạt vào các năm 1791, 1792.                                        : 397

2369. NGÔ VĂN LỘC NGHIÊM ĐƯỜNG THI TẬP.         VHv. 2463

     Thơ văn của thân sinh Ngô Văn Lộc.     : 398

2405. NGUYỄN ĐÌNH TỘC GIA PHẢ THẾ HỆ TẬP  VHv. 2428

     Cháu 16 đời là Nguyễn Đình Hội biên soạn năm 1929, Trần Văn Phùng sao lại năm 1962.

Gia phả họ Nguyễn Đình: thủy tổ Nguyễn Nhữ Soạn  (con Nguyễn Phi Khanh, em Nguyễn Trãi), quê l. Nhị Khê, h. Thượng Phúc, sau nhập tịch quê ngoại ở x. Cừ Nội, Thanh Hóa, mộ dân khai hoang lập ra ấp Mê Thôn. Nguyễn Nhữ Soạn cùng Nguyễn Trãi theo giúp Lê Lợi, được phong Tuy Quận công.

2424. NGUYỄN THỊ GIA PHẢ (ĐÔNG ĐỒ)

A. 798

     Gia phả họ Nguyễn, thủy tổ là Hải Phong ở x. Đông Đồ, h. Đông Anh. Họ này là tông thất nhà Mạc, sống ở Hải Dương, sau đổi thành họ Nguyễn, di cư đến x. Tào Mai, h. Kim Hoa. Đến đời Phúc Hiền, dời đến x. An Hòa, h. Yên Lãng, cuối cùng dời đến Đông Đồ.

     Phả do Nguyễn Huy soạn, Ngô Đức Phủ viết tựa năm 1873.                              : 428

2428. NGUYỄN THỊ TÂY SƠN KÍ   A. 3138

     Có bài kí về lịch sử thành Đồ Bàn (tr. 92-99)

                                                      : 430.

2430. NGUYỄN THỊ THẾ PHẢ THỰC LỤC

A. 2258

     Gia phả họ Nguyễn từ năm Cảnh Trị 4 (1666) đến năm Thành Thái 9 (1897). Họ này trước là họ Đào, ở x. Phù Đỗng, h. Tiên Du, sau di cư đến Đông Ngạc, Từ Liêm và đổi thành họ Nguyễn là họ ngoại.                                 : 431

2448. NGUYỄN TỘC THẾ PHẢ (HƯƠNG KHÊ)          VHv.  1753

     Hành trạng Nguyễn Hễ, hiệu Thanh Khê, người x. Hương Khê (trước là Lan Khê), h. Tĩnh Gia, Thanh hóa. Nguyễn Hễ vốn họ Hà (Hà Hiệu), nguyên quán x. Vĩnh Khê, Nông Cống, làm con nuôi họ Nguyễn, đỗ TS giúp Lê Chiêu Thống và Gia Long chống Tây Sơn.          : 441   

2469. NGƯ PHONG TƯỚNG CÔNG TRUYỆN KÍ.                                VHv. 2072

     Tiểu sử, sự nghiệp Nguyễn Quang Bích, người th. Nhất, x. Trình Phố, tg. An Bồi, h. Trực Định, ph. Kiến Xương, đỗ TS năm 1869. Bài tưạ do tác giả viết năm Hàm Nghi thứ nhất (1885), Ngô Đức Dung, hiệu Tùng Lĩnh chép tặng Long Điền tiên sinh năm 1946.                         : 452   

2476. NGỰ CHẾ NGỌC PHẢ KÍ.      VNv. 241

     Gia phả nhà Lê, thủy tổ là Lê Hối, quán l. Như Áng, h. Lương Sơn, t. Thanh Hóa. Lê Lợi là đời thứ 4, khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh, lên làm vua xưng là Thái Cao Hoàng Đế, truyền đến Lê Xuân (Cung Đế), bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi. Sau Lê Ninh (Trang tông) diệt nhà Mạc, khôi phục cơ nghiệp nhà Lê, truyền đến Chiêu Thống là đời chót. Gia phả các chi.

     Nguyễn Hài và một số đình thần triều Lê biên tập năm Cảnh Hưng 41 (1780), Đặng Xuân Khanh chép lại năm 1962.                        : 456               

2510. NHÂN ÁI THẦN TỪ LỤC    A. 710

     Sự tích thần Đỗ Kính Tu, thờ ở đền th. Nhân Ái, x. Vân Canh, h. Từ Liêm, thần là người bản thôn, làm quan triều Lí, bị vu oan là phản nghịch nên tự tử.                                     : 473

2523. NHÂN THẾ TU TRI

     Có 6 bản in, do Cao Xuân Dục biên tập, Ngô Huệ Liên và Trần Sĩ Trác kiểm hiệu. Lê Đình Luyện, Nguyễn Thiện Hành hiệu chỉnh. Quốc sử quán in 1902.                                       : 478

1548. NHỊ ĐỘ MAI DIỄN CA. VNb. 28.

     Diễn Nôm thể 6-8 truyện Nhị Độ Mai: Mai công cha Mai Lương Ngọc bị gian thần Lư Kỉ

vu oan giết hại. Lương Ngọc phải chạy trốn. Trần Hạnh Nguyên, vợ chưa cưới của Lương Ngọc cũng bị gian thần lập kế đưa đi cống Hồ. Hạnh Nguyên nhảy xuống sông tự tử, được Chiêu Quân hiển linh cứu sống. Lương Ngọc thay tên đổi họ đi thi, đỗ TN rửa được oan cho cha và cùng Hạnh Nguyên sum họp.         : 493

2552 NHỊ KHÊ NGUYỄN THỊ GIA PHẢ A.944

     Gia phả họ Nguyễn ở Nhị Khê. Ông tổ thứ nhất là Phi Phượng, hiệu Phúc Chính, nguyên quán sở x. Chi Ngại, h. Phượng Sơn (Phượng Nhỡn). Cháu 5 đời là Nguyễn Phi Khanh: 496                                                      

2598.  ÔN DỊCH                               VHv. 2087 

     Ngô Hữu Tính và Trệ Giang Di Trai, Trinh Mông Dưỡng Phủ biên tập.             : 519

2604. PHẠM CÔNG TÂN TRUYỆN  AB. 14

     Phạm Công nhà nghèo, mồ côi cha từ nhỏ, dắt mẹ đi ăn xin. Cúc Hoa con gái quan phủ đem lòng yêu, hai người lấy nhau. Phạm Công sau thi đỗ Trạng nguyên, vua định gả công chúa cho, nhưng chàng từ chối vì đã có vợ. Vua giận bắt giam. Khi được thả về, Phạm Công cùng vợ sum họp được ít lâu thì Cúc Hoa mất để lại 2  con  nhỏ. Phạm Công rất thương xót. Giặc gĩa nổi lên, vua sai Phạm Công đi đánh dẹp, chàng mang hài cốt vợ và dắt 2 con cùng ra trận. Tướng giặc động lòng lui quân. Sau Phạm Công lấy Tào Thị làm vợ kế. Tào Thị là người lẳng lơ độc ác, rất tệ bạc với con chồng, khiến chàng càng thương nhớ Cúc Hoa và đã xin từ chức, xuống âm phủ tìm người vợ trước. Trải qua bao gian nan thử thách, cuối cùng vợ chồng con cái được sum vầy.                                      : 523    

2619. PHẠM TỘC GIA PHẢ (KÍNH CHỦ)

A. 2420

     Gia phả họ Phạm ở l. Kính Chủ (năm Minh Mạng 10 đổi thành x. Dương Nham), h. Hiệp Sơn, ph. Kinh Môn, Hải Dương. Họ này vốn họ Chúc ở t. Quảng Đông, TQ, đến đời Chúc Đức Công di cư sang VN, đến đời Trần Nhân tông đổi thành họ Phạm. Những người hiển đạt: Phạm Sư Mạnh, Phạm Gia Mô, Phạm Tiến.: 531

 

2642. TRUYỆN PHAN TRẦN    AB. 37

     Soạn theo thể 6-8: Vào thời Tỉnh Khang nhà Tống (1126), có 2 người bạn thân, một họ Phan, một họ Trần. Vợ 2 người đều đang có mang. Họ Phan và họ Trần hẹn trước với nhau, nếu một bên sinh con trai, một bên sinh con gái, thì sẽ gả con cho nhau.

     Sau họ Phan sinh con trai là Tất Chánh, họ Trần sinh con gái là Kiều Liên.

     Được cha mẹ dạy dỗ chu đáo, Tất Chánh học hành chăm chỉ, thi Hương đỗ Thủ khoa, nhưng vào thi Hội bị hỏng. Xấu hổ, chàng không trở về nhà nữa, ở lại kinh đô tìm nơi trọ học, quyết chờ khoa sau. Cùng thời gian này, cha Kiều Liên mất, quê nhà lại có giặc, hai mẹ con Kiều Liên chạy nạn, thất lạc nhau. Kiều Liên đến tu ở chùa Kim Lăng, nơi bà cô của Tất Chánh trụ trì. Một hôm Tất Chánh đến thăm cô, gặp Kiều Liên, chàng phải lòng và mắc bệnh tương tư. Nể lời sư cô, Kiều Liên tới thăm Tất Chánh. Qua câu chuyện họ nhận ra rằng, chính họ có duyên đính ước từ xưa. Từ đấy họ nhiều lần bí mật đến với nhau.

     Trở lại kinh thi Hội, Tất Chánh đỗ TH. Chàng xin sư cô cho cưới Kiều Liên, hai vợ chồng cùng nhau về quê Tất Chánh. Tới nhà, Kiều Liên bất ngờ gặp lại mẹ. Thế là hai họ Phan Trần sum họp hạnh phúc.               : 544

2691. PHÙ DUNG TÂN TRUYỆN   AB. 68

     Truyện thơ Nôm về bức tranh Phù Dung, thể 6-8: Thời vua Nguyên Thuận Đế, có Thôi Tuấn Thần, con nhà gia thế, học giỏi, mà viết chữ và vẽ tranh cũng rất đẹp. Vợ là Vương Thị có nhan sắc và có tài văn thơ. Hai vợ chồng Tuấn Thần rất thích bức tranh Phù Dung do chính tay Tuấn Thần vẽ. Do được ẩm bổ, Tuấn Thần cùng vợ thuê thuyền đi nhận chức Huyện úy ở châu Vĩnh Gia. Dọc đường bị chủ thuyền là A Tú, thấy vợ chồng Tuấn Thần giàu có, đã tìm cách hãm hại. Tuấn Thần phải nhảy xuống sông, còn vợ bị ép nài lấy con trai hắn. Sau Vương Thị tìm cách trốn được lên bờ, vào tu ở một ngôi chùa, lấy pháp danh là Tuệ Viên. Một hôm có khách đến lễ và tặng chùa bức tranh Phù Dung. Tuệ Viên nhận ra đó là thủ bút của Tuấn Thần khi trước. Rồi nhân xúc động, nàng đề luôn vào bức tranh một bài thơ tứ tuyệt nói lên hi vọng được giải oan cho chồng. Sau đó Cao Nạp Lễ là viên quan Ngự sử nghỉ hưu đến chơi chùa, thấy tranh đẹp thơ hay đã mua về nhà treo chơi. Về phía Tuấn Thần, sau khi thoát khỏi tay A Tú, chàng đã phải đi viết thuê, vẽ mướn để kiếm sống và cuối cùng vào làm gia sư cho Cao Nạp Lễ. Nhìn thấy bức tranh cũ của mình, lại nhận ra bài thơ và thủ bút của vợ mình trên bức tranh, Tuấn Thần kêu xin quan Ngự sử tra xét cho vụ án. Nhờ đó nỗi oan của Tuấn Thần được giải, bọn A Tú bị xử tử. Vợ chồng Tuấn Thần đoàn tụ với nhau.                                                      : 567

2763. PHƯƠNG HOA TÂN TRUYỆN. AN. 86

     Truyện Nôm Phương Hoa thể 6-8: Phương Hoa là con gái quan Ngự sử Trần Diện, Cảnh Yên là con trai quan Thượng thư họ Trương. Gia thần Tào Trung Úy thấy Phương Hoa là người tài sắc bèn đến hỏi làm vợ. Bị từ chối, nên mạo chiếu chỉ nhà vua khép Trương công vào tội vong thần mại quốc, giết ông rồi cướp hết tài sản. Hai anh em Cảnh Tỉnh và Cảnh Yên đưa mẹ chạy về Thạch Thành lánh nạn. Một tháng sau, vợ Cảnh Tỉnh sinh Tiểu Thanh rồi lâm bệnh chết. Bảy năm sau tới kì đại khoa, mẹ con bà cháu họ Trương  trở về quê dò tin tức. Họ nghỉ ở Lôi Dương. Lúc này Phương Hoa vẫn một lòng chờ Cảnh Yên, tình cờ nàng gặp Tiểu Thanh rồi đưa về nhà làm con nuôi, nhờ đấy nàng biết được tình cảnh nhà họ Trương. Nàng đã tìm mọi cách giúp đỡ họ. Một hôm nàng hẹn Cảnh Yên vào lúc canh ba tới nhận quần áo tiền bạc ở góc vườn hoa. Không may bị tên gian Hồ Nghi biết chuyện, hắn đã lén tới chỗ hẹn, giết chết người hầu của Phương Hoa, cướp của. Cảnh Yên tới, vô tình dẫm phải người chết, máu vương khắp người. Chàng bị Trần Ngự sử bắt tống ngục. Quá đau xót, Trương phu nhân qua đời. Phương Hoa thay Cảnh Yên lo việc chôn cất chu đáo, xong xuôi nàng xin cha mẹ cho lên kinh bán hàng, kén chồng. Nhưng sau khi lên kinh, nàng đã ngày đêm ôn luyện văn chương và lấy tên là Cảnh Yên để đi thi. Kết quả nàng đỗ TS. Giữa triều đình, nàng bỏ hết mũ áo cân đai, tâu với vua nỗi oan của gia đình họ Trương và của Cảnh Yên. Tào Trung Úy bị tru di tam tộc. Hồ Nghi bị chém đầu. Cảnh Yên được xét đỗ TS đặc cách cùng Phương Hoa. Hai người chính thức lấy nhau và dẫn nhau về quê.   : 605

2776. QUAN ÂM CHÍNH VĂN TÂN TRUYỆN                  AB. 638

     Truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính, thể 6-8: Thị Kính con gái Mãng Ông, người nước Cao Ly, nhà nghèo, lấy chồng học trò là Sùng Thiện Sĩ. Một hôm học khuya, Thiện Sĩ ngủ thiếp đi bên bàn học. Ngồi may vá cạnh chồng, thấy chồng có chiếc râu mọc ngược, Thị Kính cho là điềm không hay. Sẵn dao trong tay, Thị Kính toan cắt bỏ chiếc râu đó đi. Bỗng Thiện Sĩ giật mình tỉnh dậy, cho là vợ định hại mình, bèn hô hoán lên, thế là Thị Kính bị gia đình nhà chồng đuổi ra khỏi nhà. Bị oan ức, Thị Kính cải trang thành con trai, đi tu ở chùa Văn Tự, pháp danh Kính Tâm. Trong vùng có Thị Màu, con gái một nhà giàu, tính lẳng lơ, lên chùa thấy chú tiểu Kính Tâm, Màu đem lòng say đắm. Trước sự thờ ơ của chú tiểu, Màu không nén được lòng ham muốn, bèn về nhà ăn nằm với người ở trai trong nhà và có mang. Bị hào lý trong làng tra hỏi, Màu đổ tội cho Kính Tâm, vì thế Kính Tâm bị sư cụ đuổi ra ra ở ngoài Tam quan. Ít lâu sau, Màu sinh con trai và đem vứt ra ngoài Tam quan cho Kính Tâm. Thương trẻ sơ sinh, Kính Tâm đã ngày này qua ngày khác đi xin sữa, xin cơn nuôi nấng đứa trẻ. Ba năm ròng như thế, phần vì vất vả, phần vì ưu phiền, oan ức, Kính Tâm đã kiệt sức và chết. Khi khâm liệm Kính Tâm, mọi người mới biết Kính Tâm là phụ nữ. Nỗi oan của nàng từ ấy được giải tỏ. Nàng siêu thăng thành Phật Quan Âm.      : 614

2928. SÁCH MẠNH HỌC BẬC CAO TRUNG HỌC GIÁO KHOA                        AB. 290

     Ngô Giáp Đậu, Đốc học Nam Định diễn Nôm năm 1913.                                       : 691

2973. SƠ KÍNH TÂN TRANG       A. 1390

     Truyện thơ Nôm gồm 1482 câu kể lại mối tình của Phạm Kim và Trương Quỳnh Thư: một người họ Phạm ở Từ Sơn, Kinh Bắc và một người họ Trương ở Kiến Xương, Sơn Nam quen thân nhau, hẹn gả con cho nhau, nếu một bên sinh trai, một bên sinh gái; lại trao gương vàng lược ngọc cho nhau để làm tin. Sau Phạm công sinh con trai, đặt tên là Phạm Kim. Gặp quốc biến, Phạm công tổ chức cần vương, nhưng thất bại. Phạm Kim định tiếp tục sự nghiệp của cha, cũng không thành, đành rong chơi đây đó cho khuây khỏa nỗi lòng. Ở Thú Hoa Dương, chàng gặp Quỳnh Thư, hai người yêu nhau say đắm. Nhưng rồi Quỳnh Thư bị ép gả cho một viên quan Đô đốc ở Kinh kì. Phạm Kim được tin này, đến ngay với người yêu, nhưng cả 2 đều thấy bế tắc. Trương Quỳnh Thư tự tử, còn Phạm Kim bỏ đi tu.

     Sau khi chết, Quỳnh Thư lại đầu thai  vào nhà họ Trương trở thành Thụy Châu. Nàng cải dạng làm trai, giao du rất rộng. Cuối cùng gặp Phạm Kim, họ nhận ra nhau  là có duyên gương lược từ xưa và được Trương công cho phép lấy nhau.                                                   : 712

2983. ĐẶNG MÔN THẾ PHẢ              A. 1063

     Gia phả họ Đặng ở l. An Trung, trấn Sơn Nam: thủy tổ là Nguyễn Gia Doanh, đến đời Nguyễn Đăng mới đổi theo họ ngoại là họ Đặng. Họ này có nhiều người đỗ đạt như Đình Tướng đỗ TS, Đình Trân đỗ CN.

     Do Lê Như Mai ghi năm Duy Tân (1915) : 716.

 

                             HẾT TẬP HAI

3061. TÁI SINH DUYÊN TRUYỆN   VNb .73

     Truyện thơ Nôm, kể lại mối tình giữa Hoàng Phủ Thiếu Hoa với Mạnh Lệ Quân: Thiếu Hoa đã đính hôn với Mạnh Lệ Quân. Lưu Khuê Bích là con trai một nịnh thần không lấy được Mạnh Lệ Quân đã tìm cách làm cho cha con Thiếu Hoa bị tù tội để ép duyên. Mạnh Lệ Quân phải bỏ trốn, giả trai,  lấy tên là Lịch Quân Ngọc, rồi thi đỗ Tam nguyên, được làm Tể tướng. Trong nước có giặc quấy nhiễu, quan Trạng tân khoa Hoàng Phủ Thiếu Hoa được cử đi chiêu an và đánh Cao Li. Chiến thắng trở về, Thiếu Hoa được phong Vương, vua ép chàng lấy Lưu Yến Ngọc. Chàng từ chối và có ý chờ Mạnh Lệ Quân. Thấy chàng thực bụng yêu mình, Mạnh Lệ Quân xin vua tha tội giả trai, và được phong là Quận chúa. Hai người sum họp cùng nhau.

     Chu Ngọc Chi dịch theo nguyên bản chữ Hán, in năm 1928.                                   :  7/III

3108. TẢN VIÊN SƠN NGỌC PHẢ A. 1547

     Đời Hùng Vương thứ 18 ở động Lăng Sương, xứ Sơn Tây có một người tên là Nguyễn Tuấn (sau đổi tên là Nguyễn Huệ, Nguyễn Chiêu). Sau khi cha mất, Tuấn cùng mẹ lên núi Tản Viên ở, gặp được Sơn thần cho cây gậy thần và được Thái tử ở long cung cho cuốn sách ước, nhờ vậy mà Tuấn cứu giúp được nhiều người, được dân chúng tôn là Sơn Tinh. Sơn Tinh về sau lấy Mị Nương, bị Thủy Tinh thù oán, dâng nước lên gây ra lụt lội, Sơn Tinh từng giúp Trưng Vương đánh bại Tô Định.      :32/III

3203. TÂN TẬP HOAN CHÂU THẠCH HÀ TRẢO NHA NGÔ THỊ TRUỀN GIA TẬP LỤC.             A. 3077

     Do Ngô Phúc Lâm biên tập năm Cảnh Hưng 7 (1746), Ngô Phúc Trường tục biên năm Minh Mệnh 18 (1837).                                      : 75/III

3204. TÂN TẬP NGHỆ AN THIÊN LỘC PHÙ LƯU TRƯỜNG NGUYỄN THỊ ĐẠI TÔNG TỔNG KÍ.                                A. 3161

      Gia phả họ Nguyễn ở Phù Lưu Trường, h. Thiên Lộc, từ Nguyễn Văn Giai đỗ Tam nguyên đời Lê Quang Hưng trở xuống. Nguyễn Đông Dương biên tập năm Đồng Khánh (1888)   : 76

3299. THÁI LẠC TRƯỜNG VĂN SÁCH

VHv. 461

     Những bài văn sách do Ngô Tiên Sinh ở Trường Thái Lạc soạn năm Tự Đức 12 (1859): 120.

3318. THANH BÌNH CA ĐIỆU  VHv. 2080

     Bài ca chữ Hán ca ngợi cuộc đời của Phạm Văn Nghị: ông quê l. Tam Đăng, ph. Nghĩa Hưng, đỗ HG dưới triều Nguyễn (1838). Khi Pháp sang xâm lược, Phạm Văn Nghị mộ quân chống lại, vì lực lượng mỏng, không ngăn được giặc, hai ba lần tự tử đều được cứu sống. Sau ông về sống ẩn dật tại hang núi Trường Yên, tự đặt hiệu là Liên Hoa Động Chủ.

     Do Ngô Mạnh Cầu soạn năm Tự Đức 27 (1874), Phạm Văn Nghị duyệt. : 128

3321. THANH CHƯƠNG HUYỆN CHÍ

VHv. 2557

     Đặng Công Luận chép vào năm 1963 theo bản chính. Ngô Ngọc Thiên hiệu đính.   : 130.

3369. THÁNH TÍCH THỰC LỤC  A. 1067

     Sự tích 4 vị thần: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện: nhà sư Khâu Đà La, người nước Thiên Trúc, một lần đi vân du, tới Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), Kinh thành của Sĩ Vương, nơi có nhiều người tu hành và sùng kính đạo Phật.

     Nhà sư được mời về ở nhà một người tu hành, trong nhà có cô gái  hằng ngày rất chăm chỉ và thành kính dâng hương hoa cúng Phật. Nhà sư bèn đặt tên cho cô là Man Nương. Khi từ biệt gia đình Man Nương để vào núi, nhà sư nói rằng: 3 năm sau vùng này sẽ có hạn lớn. Rồi nhà sư lấy chiếc gậy của mình cắm xuống một nơi trong vườn, bảo gia đình Man Nương đào một cái giếng ở chỗ đó để phòng hạn lớn. Được ít lâu, bỗng nhiên Man Nương có mang, qua 14 tháng sinh một bé gái. Gia đình Man Nương mang bé vào núi giao cho Khâu Đà La. Nhà sư đặt tên cho bé là Đà La Tử, rồi hỏi các cây cổ thụ, muốn nhờ cây nuôi giữ hộ. Có một cây tự tách thân ra làm đôi, đón nhận bé gái vào lòng, rồi khép kín lại. Đúng như lời sư nói, 3 năm sau dân thành Luy Lâu gặp hạn lớn, các nguồn nước đều khô cạn, phải đến xin nước giếng nhà Man Nương. Vua biết chuyện, bảo Man Nương kể hết đầu đuôi, rồi sai nàng vào núi tìm nhà sư giúp dân trong thành cứu hạn. Nghe Man Nương truyền đạt lệnh vua, nhà sư ngồi lặng gây lát, bỗng mây đen kéo tới mù mịt, mưa lớn trút xuống. Gió to nhổ bật gốc cây cổ thụ trong đó có đứa bé. Cây cổ thụ theo nguồn lũ lớn trôi về bên thành Luy Lâu. Thấy có tiếng nhạc và vừng sáng tỏa ra từ thân cây, Sĩ Vương sai cưa thân cây ra làm 4 đoạn, tạc thành 4 pho tượng để thờ. Các pho tượng này rất thiêng. Mỗi khi vua sai làm lễ cầu mưa thì lập tức mây đen kéo đến, mưa đổ xuống, lại có sấm và chớp. Vì vậy Sĩ Vương đặt tên cho 4 pho tượng là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện.

     Chép năm Thành Thái Đ. Dậu (1897) : 153

3382. THẨM GIA THẾ PHẢ  A. 758

     Gia phả họ Thẩm ở l. Thổ Linh, h. Gia Lâm: họ này vốn ở TQ, sang VN vào cuối thời Minh.

     Do Thẩm Đức Hoằng đề tưạ và bổ sung năm Minh Mệnh 13 (1832), sao lại năm 1840   : 162

3510. THIÊN HẠ BẢN ĐỒ TỔNG MỤC LỤC ĐẠI TOÀN.              A. 1362

     Tổng mục lục bản đồ VN thời Lê gồm 13 thừa tuyên, 53 phủ, 161 huyện, 9020 xã, 49 châu, 3 làng, 125 phường, 223 thôn, 529 trang, 390 động, 484 sách, 54 sở, 55 trại, 20 vạn, 16 nguyên và 3 tuần.                                     : 223

3537. TIÊN THIÊN KHẢO TRUYỆN  A. 3094

     Khảo về công chúa Liễu Hạnh: bà là con gái Lê Đức Chính và Trần Thị Phúc ở th. An Thái, x. Vân Cát, h. Vụ Bản, t. Nam Định, là một trong số 4 người bất tử (Liễu Hạnh, Tiên Dung, Chử Đồng Tử và Phù Đổng Thiên Vương) : 238

3575. THỊNH QUANG ĐỖ TỘC THẾ THỨ PHẢ KÍ.               A. 799

     Gia phả họ Đỗ ở l. Thịnh Quang, tg Hạ, h. Vĩnh Thuận, ph. Hoài Đức. Họ này vốn là họ Dương ở x. Lạc Đạo, trấn Kinh Bắc.

     Do Đỗ Hi biên tập, Đỗ Đức Liêm, Đỗ Đức Trụ hiệu đính năm Cảnh Hưng 3 (1742). Dương Lập soạn bài tựa năm 1889.                      : 255

3578. THỌ MAI GIA LỄ                VHb. 117...

     Do Hồ Gia Tân hiệu Thọ  Mai soạn. Có tất cả 21 bản in từ năm Tự Đức 4 (1851) cho đến Bảo Đại 14 (1939).                                 : 257

3634. THỦY SƠN HÀNH TẠP SAO   A. 1992

     122 bài thơ, 8 bài văn sáng tác trong dịp đi công cán ở Ninh Bình.

     Ngô Đôn soạn, Nguyễn An Chi phẩm bình. Chép năm Tự Đức 34 (1881).                  : 282

3644. THỤY PHƯƠNG THẦN TỪ  VHv. 2619

     Sự tích Lí Ông Trọng.

     Đỗ Huy Tăng sao lục, Ngô Ngọc Can kiểm duyệt                                                : 287

3802. TỐI LINH HOÀNG ĐẾ TÔN THẦN NGỌC PHẢ LỤC.                            A. 1033

     Thần sắc của x. Độc Bộ, ph. Nghĩa Hưng, t. Nam Định về Triệu Quang Phục: Triệu Quang Phục có nỏ thần, đánh được nhà Lương, xưng đế, tức là Triệu Việt Vương. Lí Phật Tử chống lại Triệu Việt Vương  không được, dùng mưu cho con là Nhã Lang cầu hôn với Cảo Nương (con gái Triệu Việt Vương) rồi ăn cắp nỏ thần và một lần nữa đem quân đánh Quang Phục. Quang Phục thua trận, chạy ra cử Đại Nha và chết ở đấy.

     Do Nguyễn Bính, Hàn lâm viện, Đông các đại học sĩ soạn. Xã Độc Bộ chép lại năm Tự Đức 17 (1864).                                    : 358

3817.TỐNG SỬ LUẬN.    VHv. 94

     Lược sử triều Tống (từ Tống Thái tổ đến Tống Thần tông)...

     Ngô Thế Vinh biên tập và viết bài chí.

3821. TỐNG TRÂN TÂN TRUYỆN  AB. 217

     Truyện Tống Trân-Cúc Hoa, thể 6-8: Tống Trân người h. Phù Hoa, t. Hưng Yên, nhà nghèo, có hiếu, được con gái phú ông đem lòng yêu và nuôi cho ăn học. Tống Trân đi thi đỗ TN, vua định gả công chúa cho, nhưng chàng từ chối, bị bắt đi sứ nước Tần 10 năm. Vua Tần lại ép gả công chúa cho chàng. Ở nhà phú ông ép gả Cúc Hoa cho Đình trưởng. Đúng ngày cưới, Tống Trân trở về được cùng Cúc Hoa đoàn tụ.

                                                            : 368

3879. TRÊ CÓC TRUYỆN.     VNb. 78

     Truyện thơ Nôm 6-8 kể lại vụ án Trê và Cóc: Cóc ra bờ ao đẻ rồi về. Trê thấy đàn nòng nọc giống mình liền đem về nuôi. Cóc ra thăm con, bị Trê quát mắng. Cóc về phát đơn kiện. Trê bị tống giam và tra khảo. Vợ Trê chạy vạy đưa lễ lên quan cho người về điều tra, thấy đàn con giống Trê, liền cho tạm giam Cóc lại. Vợ Cóc được Nhái Bén  khuyên cứ để nòng nọc cho Trê nuôi, đến khi đứt đuôi, chúng sẽ tìm về với bố mẹ chúng. Sự việc diễn ra đúng như lời Nhái Bén nói. Cóc dẫn đàn con lên quan kiện Trê. Bấy giờ quan mới vỡ lẽ. Cóc được kiện, còn Trê bị đày đi xa.                                               : 396

3904. TRÍCH DIỄM THI TẬP  VHv. 2573

     Hoàng Đức Lương  biên tập và đề tựa năm Hồng Đức  28 (1497), Ngô Ngọc Can hiệu đính

                                                          : 407

3910. TRINH THỬ TRUYỆN.             VNb. 79

     Truyện thơ Nôm thể 6-8: một con Chuột Trắng góa chồng, đi kiếm ăn đêm, nghe tiếng chó sủa, chạy vào hang một con Chuột Đực ẩn nấp. Chuột Đực gà gẫm và đem mồi giàu sang ra nhử, nhưng không lay chuyển được lòng kiên trinh của Chuột Trắng. Vừa ra đến cửa, Chột Trắng gặp Chuột Cái là vợ của Chuột Đực đang về hang. Máu ghen nổi lên, Chuột Cái đay nghiến chồng và đến nhà xỉ vả Chuột Trắng. Mèo ở đâu chợt đến, Chuột Trắng chạy thoát

 vào cong gạo, ccòn Chuột Cái sa xuống ao. May có Hồ Sinh đuổi mèo đi, vớt Chuột Cái lên, minh oan cho Chuột Trắng.               : 410

3929. TRÚC ĐƯỜNG CHU DỊCH TÙY BÚT.

A. 1153.

     Ngô Thế Vinh giới thiệu sách Chu Dịch theo lối vấn đáp.                                               : 418

3930. TRÚC ĐƯỜNG PHÚ TUYỂN. A. 128

     Những bài phú của trường Ngô Thế Vinh, đề tài lấy trong Kinh, Truyện và cổ sử của TQ.

     Ngô Thế Vinh soạn, Nguyễn Tuân Nhất biên tập năm Tự Đức Ất Hợi (1875). Có tất cả 15 bản in.                                                            : 418

3931. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN TẬP.VHv.143

     Ngô Thế Vinh soạn, gồm: trướng, đối, liễn, hạ, tấu, biểu, sớ, tụng.                            : 418

3932. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN TẬP TÙY BÚT. VHv. 2329.

     Thủ bút của Ngô Lập Chi (chắt nội Ngô Thế Vinh) chép lại 3 bài thơ của Ngô Thế Vinh từ Trúc Đường thị văn tập.                           : 419

3933. TRÚC ĐƯỜNG THI VĂN THẢO.

VHv. 2352               VHv. 2351

     Văn thơ Ngô Thế Vinh gồm nhiều thể loại, cùng một số tác phẩm của học trò.           : 419

3935. TRÚC ĐƯỜNG TIÊN SINH THI TẬP PHỤ TẠP LIÊN TRƯỚNG.   A. 1641

     Thơ Ngô Thế Vinh: đề tài lấy từ các câu thơ hoặc văn trong sách cổ TQ.                    : 420

3936. TRÚC ĐƯỜNG TRƯỜNG VĂN SÁCH.

VHv 303

     Hơn 130 bài văn sách của học trò trường Ngô Thế Vinh : đề taif lấy từ Kinh, Truyện hoặc cổ sử TQ.

     Hà Nguyên Thung sao chép.                : 420

3937. TRÚC ĐƯỜNG TÙY BÚT.  VHv. 150

     Những đoạn do Ngô Thế Vinh chép từ các sách cổ TQ: Sơn hải kinh, Thượng thư, Hoài Nam Tử, Lễ Kí, Mạnh Tử, Trang Tử, Lã Thị Xuân Thu...  Sau mỗi đoạn chép thường có lời diễn giảng, bình luận, chú thích.              : 421

3940. TRÚC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH. A. 460,   A. 2181

     Những tư tưởng chủ yếu của phái Trúc Lâm. Một số bài kệ. Tiểu sử của ba vị tổ phái Thiền Tông Trúc Lâm: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang.

     Ngô Thì Nhậm soạn. Phan Huy Ích đề tựa năm Cảnh Thịnh Bính Thìn (1796).

3948. TRUNG HỌC VIỆT SỬ BIÊN NIÊN TOÁT YẾU.                            A. 328

     Tóm lược lịch sử Việt Nam từ Hồng Bàng đến Gia Long.

     Ngô Giáp Đậu soạn, Đỗ Văn Tâm nhuận chính.                                                  : 425

3949. TRUNG HỌC VIỆT SỬ TOÁT YẾU

     Ngô Giáp Đậu biên soạn, Phạm Văn Thu duyệt, Đoàn Triến, Phạm Văn Thụ, Cao Xuân Dục đề tựa. In lần đầu 1911. Có 22 bản in.

VHv. 987/11-4...                               : 426

3960. TRÙNG KHẮC TÂM ĐĂNG KẾ TRUYỀN

     Sự hình thành của thế giới gồm 9 kiếp. Kiếp thứ nhất: từ hư không cho đến khi có trời đất. Kiếp thứ hai: có nước, lửa, mặt trời, mặt trăng, bát quái. Kiếp thứ ba: có thái dịch, thái sơ, thái thủy, thái tố, thái cực, trời biến thành 36 tầng, đất cũng có 36 tầng. Kiếp thứ tư: có Bàn Cổ. Bàn Cổ chết, hóa ra vạn vật. Kiếp thứ năm: xuất hiện Tam Hoàng tức Thiên Hoàng, Nhân Hoàng, Địa Hoàng. Kiếp thứ 6: có Ngũ Đế là Nguyên Thủy Thiên Tôn, Hư Hoàng Đại Đạo, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân, Cù Vân Đại Sư. Kiếp thứ bảy: Thích Ca ra đời. Kiếp thứ 8: Thích Ca Mâu Ni thành Phật. Kiếp thứ 9: Thích Ca giảng về Phật pháp.

3964. TRÙNG TƯƠNG TÂN LỤC    AB. 492

     Truyện Tư Mã Mạo: chàng tên Trùng Tương, người đời Hán, học giỏi, thi không đậu, lại gặp lúc gia biến, phẫn chí, làm thơ văn có câu xúc phạm đến Thiên Đình. Trời sai Diêm Vương bắt Trùng Tương xuống Âm Ti để thử tài bằng cách cho xử các vụ kiện như Hàn Tín kiện Bái Công, Hạng Võ kiện 6 tướng, két quả việc nào cũng được Trùng Tương xử đâu ra đấy. Tư Mã Đạo do vậy được tha về trần gian, sau đầu thai thành Tư Mã Ý.                                               : 435

3979. TRỪNG KHÊ THI VĂN TẬP  VHv. 268

     Ngô Thạc Phủ, hiệu Ngọc Phong soạn năm 1863 (Tự Đức Quí Hợi).                           : 443

3989. TRƯƠNG VIÊN DIỄN CA. VNb. 80

     Vở chèo Trương Viên: Trương Viên, một học trò nghèo, quê ở Vũ Lăng. Mẹ chàng già yếu. Vợ chàng là Phương, con quan Thừa tướng. Trương Viên theo lệnh vua đi dẹp giặc xa. Ở nhà giặc đến, Phương phải dắt mẹ vào rừng lánh nạn. Chẳng may mẹ bị đau nặng, Phương phải khoét hai mắt của mình để cúng thần, cứu mẹ thoát chết. Sau đó nàng được Tiên Nga dạy cho nghề đàn hát, hai mẹ con dắt díu nhau đi hát rong kiếm sống. Tình cờ một hôm, Phương và mẹ đến nơi Trương Viên đóng quân, Trương Viên cho mời Phương vào hát. Mẹ con vợ chồng lúc này mới gặp nhau. Trương Viên đưa ngọc lưu li là kỉ vật ngày hai vợ chồng mới lấy nhau cho Phương xem, bỗng nhiên hai mắt của Phương lành lại như cũ. Gia đình từ đấy đoàn tụ. Trương Viên được vua phong là Tướng quốc Nguyên nhung, còn Phương được phong nhất phẩm phu nhân.                                     : 449

4000. TRƯỚNG HẠ BI KÍ HÀNH TRẠNG TẠP VĂN.                                        A. 2909

     Sự tích hai công thần triều Lê: Ngô Công Bảo và Mai Xuân Bảng.                       : 454

4022. TÙNG HIÊN BẢO QUANG NGÔ TỬ VĂN TẬP.                                              A. 2144

     43 bài văn, thơ của Ngô Đình Thái (tự Bảo Quang, hiệu Tùng Hiên) làm hộ người khác: 463

4023. TÙNG HIÊN TẬP.          VHv. 1469

     87 bài  văn của Ngô Đình Thái.           : 463

4204. TÙNG HIÊN TRƯỚNG SÁCH VĂN

             A. 530

     35 bài văn sách của Ngô Đình Thái.    : 463

4032. TÙY THỜI ĐẠI NGHIỆP BI VĂN.

VHv. 2369

     Nguyễn Nhân Khí   Hà Nam soạn năm Tùy Đại Nghiệp Mậu Dần.

     Viên mục xã Phù Liễn chép lại vào năm  Vĩnh Khánh Tân Hợi (1731), Chu Văn Liên chép lại vào năm 1952.

     Tú tài Ngô Bá Chuẩn ở Phù Liễn sao lại vào năm Thiệu Trị 2 (1842).

     Bài văn bia ở đền x. Phù Liễn, tg. Thạch Khê, h. Đông Sơn, ph. Thiệu Hóa, t. Thanh Hóa: tài học và sự nghệp của viên quan cai trị Châu Ái dưới thời thuộc Tùy.               : 467

4046. TUYẾT TRAI THI TẬP        A. 1854

     161 bài thơ dùng làm mẫu cho người học làm thơ, do Ngô Thời Ức soạn.                 : 475

4047. TƯ HƯƠNG VẬN LỤC.         A. 699

     66 bài thơ của Lê Quang Bí gửi gia đình trong 19 năm ông đi sứ TQ, bắt đầu từ năm Gia Tĩnh 33 (1554).                                        : 476

4137. TƯỜNG TỘC PHẢ KÍ.           A. 1642

     Gia phả họ Tường, vốn là họ Đỗ, ở x. Bối Khê, h. Khoái Châu, Hưng Yên. Từ thủy tổ trở xuống có 12 đời.

     Tường Duy Quý soạn, Tường Vĩnh Tuy chép năm Khải Định 2 (1917).                        : 515

4161. VẠN PHƯƠNG TẬP NGHIỆM. A. 1287

     100 bài thuốc gia truyền, do Ngô Tỉnh tự Văn Tỉnh, hiệu Trấn An soạn, Nguyễn Nho hiệu chỉnh, Nguyễn Địch sao lục. Bài tụa đề năm Cảnh Hưng Canh Ngọ (1762).                  : 529

4172. VĂN DUYÊN DIỄN HÍ.      AB. 280

     Vở tuồng diễn sự tích Văn Duyên (Đoan): Văn Duyên tên thật là Lía, người Qui Nhơn, mồ côi cha từ nhỏ, rất thương mẹ, hay bắt trộm gà vịt mang về cho mẹ. Mẹ Lía không đồng tình, răn dạy nhiều lần, đem Lía giao cho thầy học, nhưng Lía bỏ học. Sau Lía cùng với Hồ và Nhẫn vào rừng lập hội “Anh hùng hảo hớn”, thường cướp của kẻ giàu chia cho người nghèo.

                                                           : 535

4175. VĂN ĐẾ CỨU KIẾP CHÂN KINH DIỄN ÂM.                            AN. 141

     Ngô Vi Lâm diễn Nôm theo thể thơ 6-8, cuốn Văn Đế cứu kiếp chân kinh của TQ.  : 536

4223. VÂN CÁT LÊ GIA NGỌC PHẢ. A. 3181.

     Gia phả họ Lê ở th. Vân Cát, x. An Thái, h. Vụ Bản: thủy tổ là Lê Tư Vinh, con thưs 5 của Lê Bang Cơ (Nhân tông). Sau khi họ Mạc cướp ngôi vua Lê, Tư Vinh chạy về thôn Vân Cát, lấy vợ là Trần Thị Thục, sinh Tư Thắng. Thắng sinh Giáng Tiên, tức là Công chúa Liễu Hạnh.

     Hương cống Nguyễn Quốc Trinh biên soạn năm Vĩnh Tộ 5 (1623). Sao chép lại  năm Bảo Đại 15 (1940).                                      : 556

4224. VÂN CÁT THẦN NỮ CỔ LỤC. A.1927

     Sự tích vị nữ thần ở th. Vân Cát, h. Vụ Bản  thời Lê Anh tông: nữ thần tên thật là Giáng Hương, lấy một người họ Đào, sinh được 1 trai, 1 gái. Năm 21 tuổi, Giáng Hương chết. Sau lại đầu thai  lấy một người họ Lưu (chính là người chồng cũ, cũng đầu thai), sinh thêm 1 gái. Người chồng thi đỗ TS, làm quan ở Viện hàn lâm. Sau khi mất, Giáng Hương rất linh thiêng, nhân dân lập đền thờ ở Phố Cát.            : 556

4328. VIỆT SỬ TIÊU ÁN.          A. 11 ...

     Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ soạn: bình luận về một số sự kiện lịch sử VN từ Hồng Bàng cho đến cuối Trần. Sau được đưa vào Đại Việt sử kí in thời Tây Sơn.                                       : 616

4340. VĨNH GIA THÁM HOA PHAN KÍNH TRUYỆN.      VHv. 1352.      MF. 1842

     Tiểu sử, hành trạng của Phan Kính: ông húy

Sưởng, tự Dĩ Trực, hiệu Tĩnh Trai, quê ở th. Vĩnh Gia, h. La Sơn, t. Hà Tĩnh, đỗ TH (1743), được nhà Lê trọng dụng, cho làm Đông các học sĩ lúc 37 tuổi. Sau khi mất được phong làm Phúc Thần Đại Vương.                            : 622

4355. VỊNH SỬ THI QUYỂN.  A. 849.

     334 bài thơ đề vịnh thắng cảnh, danh nhân,...

Bản trên có ghi chú như sau: “Sách gia đình họ Bùi; còn một tên nữa là “Tứ hổ, An Nam tứ đại tài”, gồm Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Trác Luân, Nguyễn Bá Lân, Ngô Tuấn Cảnh” : 630

4361. VŨ DÙ THỊ TIÊN SƯ DI SỰ KHẢO.

A. 1161,  MF. 1614

     Sự tích Bùi Quốc Khải, người x. Quất Động, tg. Bình Lăng, h. Thượng Phúc, ph. Thường Tín, trấn Sơn Nam, có công dạy dân các làng Đô Quan,Tam Xá, Phi Dương,Vũ Lăng và Hương Giải làm dù. Tương truyền trong chuyến đi sứ TQ vào đời Lê Thái tông (1343-1442), Bùi quốc Khái được triều đình nhà Minh thử tài  bằng cách cho ở trong một gian nhà trên gác đã bị lấy mất cầu thang. Bùi quốc Khái phát hiện ra trong nhà có một tượng Phật, một lò hương, một bát nước sạch và 2 chiếc dù. Nhanh trí cho rằng, Phật chả lẽ bày vô cớ, ông tách đôi Phật ra, thấy có nhiều bột mì để bên trong. Có bột mì, có lò hương, có nước sạch, thế là đã có cái duy trì cuộc sống. Ông quan sát kĩ 2 chiếc dù, đặc biệt là cách làm ra nó, rồi cầm mỗi tay một chiếc, nhảy xuống sân nhà một cách an toàn. Sau khi về nước, ông truyền lại kỉ thuật làm dù cho địa phương, được dân tôn thờ ông làm tiên sư. : 633

4403. VŨ THỊ GIA PHẢ.                  A. 2941

     Gia phả họ Vũ ở ph. Thiệu Hóa, t. Thanh Hóa, bắt đầu từ thủy tổ là Vũ Uy, người Chiêm Thành theo vua Lê Thái tổ đánh quân Minh lập  nhiều chiến công, được ban quốc tính.       : 654

4436. XUÂN THU QUẢN KIẾN.  VHv. 806

     Lời bình của Ngô Thì Nhậm về các sự kiện chép trong sách Xuân Thu. Soạn năm 1786: 673

4447. XƯỚNG KHÚC TẬP THI.   AB.195

     Một số bài hát ả đào....

     Nam Dương Ngô Đình Thái, tự Bảo Quang, hiệu Tùng Hiên  soạn.                     : 679

4513. YÊN ĐÀI THU VỊNH.       A. 1697

     Thơ văn Ngô Thì Nhậm làm trong thời gian đi sứ TQ (1793).

     Tùng Hiên hiệu duyệt, Thận Trai biên tập, Thì Trí sao chép.                                : 714

 

 

 

Gửi bởi webmaster    

Tài liệu khác